tiểu luận về nền văn minh trung quốc
Đã gần nửa thế kỷ trôi qua nhưng cuộc chiến "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" và những ngày B-52 quần thảo trên bầu trời Hà Nội luôn khiến người ta lại nhớ tới Trung tướng Phan Thu, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Trinh sát nhiễu, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
SẮC LỆNH VỀ TỔ CHỨC BỘ QUỐC GIA GIÁO DỤC NĂM 1946 Ngày 09 tháng 7 năm 1946, Chính phủ ra Sắc lệnh số 119/SL về việc tổ chức Bộ Quốc gia Giáo dục, là cơ quan của Hội đồng Chính phủ, có trách nhiệm quản lý công tác giáo dục, phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông, bổ túc văn hoá.
Như vậy với những ưu thế nổi vốn có của mình thì Trung Quốc đã có một nền văn minh vô cùng rực rỡ về nhiều mặt, trong đó nổit bật như chữ viết, văn học, sử học , khoa học -tự nhiên Đặc biệt Trung Quốc rất coi trọng việc giáo dục con người thể hiện trong việc mở các trường học và tổ chức các khoa cử trong các triều đại trước.
TP Hồ Chí Minh: Phân Ban Ni Giới Trung Ương Chúc Tết Chư Vị Trưởng Thượng, Chính Quyền Các Cấp Tiểu luận triết học: Triết học Phật giáo TP.HCM: Tu viện Tường Vân - Huyện Bình Chánh tổ chức lễ Hằng Thuận Nguyễn Văn Huyền vào lúc 11/04/2020 11:30:11
a) Về số lượng (Tiểu luận: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam) Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường giai cấp công nhân đã tăng lên về mặt số lượng ,nhưng vẫn còn chiếm tỷ trọng thấp trong dân cư và lực lượng lao động . Năm 1986 :
Site De Rencontre Gratuit Region Centre. Suốt 5000 năm tồn tại và phát triển, văn minh Trung Quốc không chỉ có ảnh hưởng đến các dân tộc Châu Á, mà còn có những đóng góp lớn cho tiến trình phát triển của văn minh loài người. Những phát minh lớn của Trung Quốc trong lịch sử khoa học - kĩ thuật của thế giới. Những phát minh đó đã làm thay đổi bộ mặt thế giới, loại thứ nhất trên bình diện văn học, loại thứ hai trên bình diện chiến tranh, loại thứ ba trên bình diện hàng hải nội dung chi tiết của bài tiểu luận.
Phân tích và làm rõ ý kiến sau “Bài thơ Tự tình II vừa nói lên bi kịch duyên phận vừa cho thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương”. Nội dung chính Show Top 1 Tiểu luận Thành tựu của Văn Hóa Trung Hoa thời kỳ Trung đạiTop 2 Tiểu luận Thành tựu của Văn Hóa Trung Hoa thời kỳ Trung đại ppsTop 3 Tiểu luận VĂN HÓA KINH DOANH TRUNG QUỐC docx - Tài liệuTop 4 Tiểu Luận Về Văn Hóa Trung Quốc, Đề Tài Tìm Hiểu Về ... - 5 Đề tài Tìm hiểu về văn hóa Trung Quốc - Luận vănTop 6 Tiểu luận Đặc điểm và những thành tựu tiêu biểu trong lĩnh vực kiến trúc ...Top 7 văn hoá Trung Quốc trang 1 tải miễn phí từ tailieuXANHTop 8 Tiểu luận Thành tựu của văn hóa Trung Hoa thời trung đạiTop 9 PDF BÀI TIỂU LUẬN Thu Nguyễn - 10 Tiểu Luận Về Nền Văn Minh Trung Quốc - Tìm Văn Bản Top 1 Tiểu luận Thành tựu của Văn Hóa Trung Hoa thời kỳ Trung đại Tác giả - Nhận 173 lượt đánh giá Tóm tắt Tóm tắt nội dung tài liệuĐăng ký thành viên. • Help. •. • Ghi Nhớ? Chuyên mục. • Blogs. • Bài mới. • Kiến thức tự nhiên. • Kiến thức xã hội. • o Kiến thức văn học Văn học phổ thông Nghiên cứu văn học Văn học thiếu nhi Hỏi đáp Văn học o Kiến thức lịch sử Lịch sử Việt Nam Lịch sử Thế Giới Khảo cổ học Lịch sử phổ thông Bàn luận lịch sử. Nhân vật lịch sử o Kiến thức địa lý Địa lý Việt Nam Địa lý Thế Giới Kiến thức du lịch Địa lý phổ thông Hỏi đáp Địa lý Kiến thức chuyê Khớp với kết quả tìm kiếm Trong thế giới cổ đại phương Đông xuất hiện bốn nền văn hóa lớn gồm Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Hoa. Sự xuất hiện của bốn trung tâm văn hóa lớn và ... ... Top 2 Tiểu luận Thành tựu của Văn Hóa Trung Hoa thời kỳ Trung đại pps Tác giả - Nhận 193 lượt đánh giá Khớp với kết quả tìm kiếm Tài liệu về Tiểu luận Thành tựu của Văn Hóa Trung Hoa thời kỳ Trung đại pps - Tài liệu , Tieu luan Thanh tuu cua Van Hoa Trung Hoa thoi ky Trung dai pps ... ... Top 3 Tiểu luận VĂN HÓA KINH DOANH TRUNG QUỐC docx - Tài liệu Tác giả - Nhận 160 lượt đánh giá Khớp với kết quả tìm kiếm Tài liệu về Tiểu luận VĂN HÓA KINH DOANH TRUNG QUỐC docx - Tài liệu , Tieu luan VAN HOA KINH DOANH TRUNG QUOC docx - Tai lieu tại 123doc - Thư viện trực ... ... Top 4 Tiểu Luận Về Văn Hóa Trung Quốc, Đề Tài Tìm Hiểu Về ... - Tác giả - Nhận 142 lượt đánh giá Tóm tắt Đang xem Tiểu luận về văn hóa trung quốc đang nạp các trang xem trước . Phân tích và làm rõ ý kiến sau “Bài thơ Tự tình II vừa nói lên bi kịch duyên phận vừa cho thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương” Tập làm văn Viết cảm tưởng hoặc kỷ niệm sâu sắc của bản thân, gia đình về người chiến sỹ Quân khu 7, về mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa lực lượng vũ trang Quân khu 7 với nhân dân và trách nhiệm của bản thân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ Khớp với kết quả tìm kiếm Suốt 5000 năm tồn tại và phát triển, văn minh Trung Quốc không chỉ có ảnh hưởng đến các dân tộc Châu Á, mà còn có những đóng góp lớn cho tiến trình phát ... ... Top 5 Đề tài Tìm hiểu về văn hóa Trung Quốc - Luận văn Tác giả - Nhận 139 lượt đánh giá Tóm tắt Kinh tếquốc tếngày nay không ngừng phát triển và trởthành một xu hướng tất yếu của các Quốc gia trên thếgiới. Khi tham gia toàn cầu hóa, mởrộng quan hệkinh doanh với các nước trên thếgiới thì việc nghiên cứu văn hóa của một quốc gia có một vai trò rất lớn trong việc đáp ứng đúng nhu cầu tiêu dùng và được thịtrường. Ngày nay, đã có nhiều sản phẩm khi xâm nhập vào thịtrường quốc tế đã không tìm hiểu kỹvăn hóa của thịtrường và kết quảlà sản phẩm của họvi phạm yếu tốvăn hóa và thịtrường đã không ch Khớp với kết quả tìm kiếm 4 thg 6, 2013 — Khi thâm nhập thịtrường này, việc hiểu rõ văn hóa sẽmang lại nhiều thuận lợi trong sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, Trung Quốc là một quốc gia ... ... Top 6 Tiểu luận Đặc điểm và những thành tựu tiêu biểu trong lĩnh vực kiến trúc ... Tác giả - Nhận 146 lượt đánh giá Tóm tắt Download Tiểu luận Đặc điểm và những thành tựu tiêu biểu trong lĩnh vực kiến trúc của Trung Quốc cổ trung đại miễn phí Cửa chính Ngọ môn ở mặt Nam là nơi hoàng đế kiểm duyệt quân đội. Qua khỏi Ngọ môn là một đại viện, kim thủy hà xuyên ngang, trên sông có năm cầu đá cẩm thạch, đạo diện cho ngũ đức. Sau năm 1949, Tử Cấm Thành được đổi làm Viện bảo tàng Cố Cung. Đây là hoàng cung của chế độ phong kiến trung Quốc suốt 500 năm. Quy mô to lớn, phong cách đẹp mắt, kiến trúc rộng lớn, bày biện sang tr Khớp với kết quả tìm kiếm Năm 1987, UNESCO tuyên bố Tử Cấm Thành là một trong những di sản văn hóa thế ... sử và những đóng góp về sự sáng tạo của những thế hệ người dân Trung Quốc, ... ... Top 7 văn hoá Trung Quốc trang 1 tải miễn phí từ tailieuXANH Tác giả - Nhận 136 lượt đánh giá Tóm tắt Trang web này phụ thuộc vào doanh thu từ số lần hiển thị quảng cáo để tồn tại. Vui lòng tắt trình chặn quảng cáo của bạn hoặc tạm dừng tính năng chặn quảng cáo cho trang web này. Khớp với kết quả tìm kiếm ... Tiểu luận"Nguồn gốc dân tộc Miêu ở Trung Quốc", Luận văn Thạc sĩ Cách dùng chữ đặt tên của người Trung Quốc và hàm ý văn hoá của nó, Đôi nét về văn ... ... Top 8 Tiểu luận Thành tựu của văn hóa Trung Hoa thời trung đại Tác giả - Nhận 161 lượt đánh giá Tóm tắt 2/21/2019 31758 PM Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về các vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam đồng thời nó vừa là sự kết tinh giữa tinh hoa vă ...View1120Số lượt tải10 Filedocx Số trang31 2/21/2019 31800 PM Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học - tôn giáo lớn nhất trên thế giới, tồn tại rất lâu đời. Hệ thống giáo lý của nó rất đồ sộ và số lượng phật tử đ ...View809Số lượt tải15 Filedoc Số trang21 2/21/2019 31802 PM Bước sang thế kỉ XXI, tron Khớp với kết quả tìm kiếm Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về các vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam đồng thời nó vừa là sự kết tinh giữa tinh hoa vă ... ... Top 9 PDF BÀI TIỂU LUẬN Thu Nguyễn - Tác giả - Nhận 122 lượt đánh giá Tóm tắt Loading PreviewSorry, preview is currently unavailable. You can download the paper by clicking the button above. Khớp với kết quả tìm kiếm BÀI TIỂU LUẬN VĂN HÓA KINH DOANH CỦA TRUNG QUỐC Giảng viên hướng dẫn Ngô ... CHƯƠNG 2 CÁC LƯU Ý VỀ SỰ KHÁ C BIỆT TRONG VĂN HÓA KINH DOANH CỦA QUỐC GIA . ... Top 10 Tiểu Luận Về Nền Văn Minh Trung Quốc - Tìm Văn Bản Tác giả - Nhận 122 lượt đánh giá Khớp với kết quả tìm kiếm Tiểu Luận Về Nền Văn Minh Trung .pdf .xls .ppt .txt và hàng tỷ văn bản, tài liệu, học liệu, sách, được tải xuống miễn phí trên toàn thế giới. ...
Văn hóa Trung Quốc là một trong những nền văn hóa lâu đời nhất và phức tạp nhất trên thế giới. Các vùng mà văn hóa Trung Quốc thống trị trải dài trên một khu vực địa lý rộng lớn ở miền Đông châu Á với các phong tục và truyền thống rất nhiều điểm khác nhau giữa các thị trấn, thành phố và tỉnh. Văn hóa Trung Quốc đã lan truyền và ảnh hưởng mạnh mẽ đến các dân tộc, quốc gia lân cận như Triều Tiên bây giờ gồm Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam bắt đầu từ thời kỳ Bắc thuộc và kéo dài cho đến nay. Điều kiện hình thành[sửa] Điều kiện tự nhiên[sửa] Lãnh thổ Trung Quốc thời cổ đại nhỏ hơn bây giờ rất nhiều. Địa hình Trung Quốc rất đa dạng và phong phú, phía Tây có nhiều núi và cao nguyên, khí hậu khô hanh, phía đông có các bình nguyên châu thổ phì nhiêu, thuận lợi cho việc làm nông Quốc có hàng ngàn con sông lớn nhỏ, nhưng có hai con sông quan trọng nhất là sông Hoàng Hà và sông Trường Giang hay sông Dương Tử. Hai con sông này đều chảy theo hướng tây-đông và hàng năm đem phù sa về bồi đắp cho những cánh đồng ở phía đông Trung Quốc. Dân tộc[sửa] Trung Quốc có nhiều dân tộc nhưng đông nhất là người Hoa-Hạ. Người Hoa ngày nay tự cho tổ tiên họ gổc sinh sống ở ven núi Hoa thuộc tỉnh Thiểm Tây và sông Hạ thuộc tỉnh Hồ Bắc ngày nay. Dân núi Hoa sông Hạ. Trung Quốc ngày nay có 56 dân tộc, và 5 dân tộc có dân số đông nhất là Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng. Lịch sử[sửa] Con người đã sinh sống ở đất Trung Quốc cách đây hàng triệu năm. Dấu tích người vượn ở hang Hoa Hạ - Bình Nhưỡng gần Bắc Kinh có niên đại cách đây hơn năm. Cách ngày nay khoảng hơn 5000 năm, xã hội nguyên thuỷ ở Trung Quốc bước vào giai đoạn tan rã, xã hội có giai cấp, nhà nước ra đời. Giai đoạn đầu, lịch sử Trung Quốc chưa được ghi chép chính xác mà chỉ được chuyển tải bằng truyền thuyết. Theo truyền thuyết, các vua đầu tiên của Trung Quốc là ở thời kỳ Tam Hoàng Ngũ Đế Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông và Hoàng đế, Cao Dương đế, Cốc đế, Nghiêu đế, Thuấn đế. Theo các nhà nghiên cứu, thực ra đây là giai đoạn cuối cùng của thời kỳ công xã nguyên thuỷ. Nền văn minh Trung Hoa cổ gắn liền với vùng lục địa Đông Á rộng lớn. Cách đây khoảng 50 vạn năm, ở vùng Chu Khẩu Điếm về phía Tây Nam thành phố Bắc Kinh ngày nay đã có con người sinh sống, được gọi là người vượn Bắc Kinh Peking Man. Đó chính là những bầy đoàn người nguyên thủy dùng cành cây gậy gộc và các công cụ đá thô sơ để săn bắt, hái lượm và tự vệ. Người vượn Bắc Kinh đã biết dùng lửa. Thời kỳ sơ khởi[sửa] Trải qua hàng chục vạn năm, những cư dân nguyên thủy vùng này đã phát triển và ngày một đông đúc. Họ đã hình thành các bộ lạc lớn và bành trướng lãnh thổ, biết chăn nuôi và trồng trọt và cư trú trên một vùng rộng lớn của lục địa châu Á. Trên vùng đồng bằng rộng lớn Hoa Bắc, tổ tiên xưa của người Trung Hoa sống thành những làng xóm ven sông, trong những túp lều tường đất, mái tranh. Tôn giáo-nghệ thuật cũng bắt đầu hình thành từ những cụm cư dân này. Các nhà khảo cổ học khám phá và xác định hai nền văn hóa là Ngưỡng Thiều thuộc Hà Nam và Long Sơn thuộc Sơn Đông Trung Quốc cách ngày nay vào khoảng từ năm. Những di vật tìm thấy ở hai nền văn hóa này, bên cạnh các dụng cụ sản xuất, sinh hoạt còn có các sản phẩm gốm được làm từ một loại đất mà đồ gốm có màu đen và có các hoa văn hình học, hình động thực vật... được tạo dáng thanh thoát và có độ bền chắc. Thời kỳ văn minh sông Hoàng Hà[sửa] Theo truyền thuyết, vào khoảng từ đến năm trước đây, vùng phía Tây và Tây Bắc Trung Quốc, dọc theo thượng nguồn của con sông Hoàng Hà có một quần thể dân cư sinh sống và đã đạt được một trình độ văn hóa khá cao, Văn minh sông Hoàng Hà hay văn minh Hoa Hạ. Những cư dân này sống định cư dưới chân núi Hoa nên tiếng Trung Quốc gọi là Hoa Hạ người sống dưới núi Hoa. Cũng theo truyền thuyết, người Hoa Hạ đã có nhiều thành tựu trong các lĩnh vực văn hóa và xã hội. Văn minh Hoàng Hà theo các nhà sử học và khảo cổ học, được xem là bắt đầu từ khoảng TCN đến TCN, và được chia thành các giai đoạn sau Thời kỳ Tam hoàng Ngũ đế Thời Nhà Hạ Thời Nhà Thương Thời kỳ dựng nước[sửa] Thời kỳ này bắt đầu bởi sự sụp đổ của nhà Thương và bắt đầu kỷ nguyên của nhà Chu TCN – 221 TCN bao gồm nhà Tây Chu, TCN – 771 TCN và nhà Đông Chu hay còn được gọi là thời Xuân Thu và Chiến Quốc và kết thúc chiến tranh giữa các tiểu vương quốc bằng sự bắt đầu triều đại nhà Tần thống nhất Trung Hoa vào năm 221 TCN. Sau đó, nhà Hán thống nhất Trung Quốc thành lập vương triều Hán tồn tại gần 400 năm. Chữ viết[sửa] Đời nhà Thương, người Trung Hoa đã có chữ Giáp cốt được viết trên mai rùa, xương thú, được gọi là Giáp cốt văn. Qua quá trình biến đổi, từ Giáp cốt văn hình thành nên Thạch cổ văn, Kim văn. Tới thời Tần, Chữ triện được phát triển . Sang đến đời nhà Hán, chử triện được thay thế bằng chữ viết thống nhất trong khuôn hình vuông được gọi là Chữ hán . Chữ hán được dùng cho từ đó cho đến ngày nay Văn học[sửa] Kinh Thi là tập thơ cổ nhất ở Trung Quốc do nhiều tác giả sáng tác thời Xuân-Thu, được Khổng tử sưu tập và chỉnh lý. Kinh Thi gồm có 3 phần Phong, Nhã, Tụng. Thơ Đường là thời kỳ đỉnh cao của nền thơ ca Trung Quốc. Trong hàng ngàn tác giả có ba nhà thơ lớn nổi bật là Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị. Tới thời Minh – Thanh, tiểu thuyết lại rất phát triển với các tác phẩm tiêu biểu như Tam quốc diễn nghĩa La Quán Trung, Thủy hử Thi Nại Am, Tây du ký Ngô Thừa Ân, Nho lâm ngoại sử Ngô Kính Tử, Hồng lâu mộng Tào Tuyết Cần,... Trong đó, Hồng lâu mộng được đánh giá là tiểu thuyết có giá trị nhất. Sử học[sửa] Người Trung Hoa thời cổ rất có ý thức về biên soạn sử. Nhiều nước thời Xuân Thu đã đặt các quan chép sử. Trên cơ sở quyển sử nước Lỗ, Khổng Tử đã biên soạn ra sách Xuân Thu. Tới thời Hán, Tư Mã Thiên là một nhà viết sử lớn đã để lại Sử ký, chép lại lịch sử Trung Quốc gần 3000 năm, từ thời Hoàng Đế đến thời Hán Vũ Đế. Tới thời Đông Hán, có các tác phẩm Hán thư của Ban Cố, Tam quốc chí của Trần Thọ, Hậu Hán thư của Phạm Diệp. Tới thời Minh và Thanh, các bộ sử như Minh sử, Tứ khố toàn thư là những di sản văn hoá đồ sộ của Trung Quốc. Toán học[sửa] Người Trung Hoa đã sử dụng hệ đếm thập phân từ rất sớm. Thời Tây Hán đã xuất hiện cuốn Chu bễ toán kinh, trong sách đã có nói đến quan niệm về phân số, về quan hệ giữa 3 cạnh trong một tam giác vuông. Thời Đông Hán, đã có cuốn Cửu chương toán thuật, trong sách này đã nói đến khai căn bậc 2, căn bậc 3, phương trình bậc 1, đã có cả khái niệm số âm, số dương. Thời Nam – Bắc triều có một nhà toán học nổi tiếng là Tổ Xung Chi, ông đã tìm ra số Pi xấp xỉ 3,14159265, đây là một con số cực kì chính xác so với thế giới hồi đó. Thiên văn học[sửa] Từ đời nhà Thương, người Trung Hoa đã vẽ được bản đồ sao có tới 800 vì sao. Họ đã xác định được chu kỳ chuyển động gần đúng của 120 vì sao. Từ đó họ đặt ra lịch Can Chi. Thế kỷ IV TCN, Can Đức đã ghi chép về hiện tượng vết đen trên Mặt Trời. Thế kỷ II, Trương Hành đã chế ra dụng cụ để dự báo động đất. Năm 1230, Quách Thủ Kính đời Nguyên đã soạn ra cuốn Thụ thời lịch, xác định một năm có 365,2425 ngày. Đây là một con số rất chính xác so với các nhà thiên văn châu Âu thế kỷ XIII. Y, dược học[sửa] Thời Chiến Quốc đã có sách Hoàng đế nội kinh được coi là bộ sách kinh điển của y học cổ truyền Trung Hoa. Thời nhà Minh có cuốn Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân. Cuốn sách này được dịch ra chữ Latin và được Darwin coi đây là bộ bách khoa về sinh vật của người Trung Quốc thời đó. Đặc biệt, châm cứu là một thành tựu độc đáo của y học Trung Quốc. Kỹ thuật[sửa] Có 4 phát minh quan trọng về mặt kĩ thuật mà người Trung Hoa đã đóng góp cho nhân loại, đó là giấy, thuốc súng, la bàn và nghề in. Giấy được chế ra vào khoảng năm 105 do Thái Luân. Nghề in bằng những chữ rời đã được Tất Thăng sáng tạo vào đời Tuỳ. Đồ sứ cũng có nguồn gốc từ Trung Hoa. Từ thế kỷ VI, họ đã chế ra diêm quẹt để tạo ra lửa cho tiện dụng. Kiến trúc kiểu Trung Hoa Hội họa[sửa] Hội họa Trung Quốc có lịch sử 5000 - 6000 năm với các loại hình bạch hoạ, bản hoạ, bích hoạ. Đặc biệt là nghệ thuật vẽ tranh thuỷ mạc, có ảnh hưởng nhiều tới các nước ở Châu Á. Cuốn Lục pháp luận của Tạ Hách đã tổng kết những kinh nghiệm hội họa từ đời Hán đến đời Tùy. Điêu khắc[sửa] Trung Quốc cũng phân thành các ngành riêng như Ngọc điêu, thạch điêu, mộc điêu. Những tác phẩm nổi tiếng như cặp tượng Tần ngẫu đời Tần, tượng Lạc sơn đại Phật đời Tây Hán pho tượng cao nhất thế giới, tượng Phật nghìn mắt nghìn tay. Kiến trúc[sửa] Công trình nổi tiếng thế giới như Vạn Lý Trường Thành dài 6700 km, Thành Tây An, Cố cung, Tử cấm thành ở Bắc Kinh. Triết học[sửa] Thời Xuân Thu - Chiến Quốc, ở Trung Quốc đã xuất hiện rất nhiều những nhà tư tưởng đưa ra những lý thuyết để tổ chức xã hội và giải thích các vấn đề của cuộc sống Bách gia tranh minh. Thuyết Âm dương, Bát quái, Ngũ hành, Âm dương gia -Âm dương, bát quái, ngũ hành, là những thuyết mà người Trung Quốc đã nêu ra từ thời cổ đại để giải thích thế giới. Họ cho rằng trong vũ trụ luôn tồn tại hai loại khí không nhìn thấy được xâm nhập vào trong mọi vật là âm và dương lưỡng nghi. -Bát quái là 8 yếu tố tạo thành thế giới Càn trời, Khôn đất, Chấn sấm, Tốn gió, Khảm nước, Ly lửa, Cấn núi, Đoài hồ. Trong Bát quái, hai quẻ Càn, Khôn là quan trọng nhất. -Ngũ hành là Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Đó là 5 nguyên tố tạo thành vạn vật. Các vật khác nhau là do sự pha trộn, tỉ lệ khác nhau do tạo hoá sinh ra. Sau này, những người theo thuyết Âm dương gia đã kết hợp thuyết Âm dương với Ngũ hành rồi vận dụng nó để giả thích các biến động của lịch sử xã hội. Nho giáo[sửa] Đại biểu cho phái Nho gia là Khổng Tử. Nho gia đề cao chữ nhân, chủ trương lễ trị, phản đối pháp trị. Nho gia đề cao Tam cương, Ngũ thường, cùng với tư tưởng Chính danh định phận và đề cao tư tưởng Thiên mệnh. Giá trị quan trọng nhất trong tư tưởng của Khổng Tử là về giáo dục. Ông chủ trương dạy học cho tất cả mọi người. Tới thời Hán Vũ Đế 140-87 TCN, chấp nhận đề nghị của Đổng Trọng Thư, Hán Vũ Đế đã ra lệnh "bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật", Nho gia đã được đề cao một cách tuyệt đối và nâng lên thành Nho giáo. Đạo giáo[sửa] Đạo gia là Lão Tử và Trang Tử. Hai ông đã thể hiện tư tưởng của mình qua hai tác phẩm Đạo đức kinh và Nam Hoa kinh. Theo Lão Tử, "Đạo" là cơ sở đầu tiên của vũ trụ, có trước cả trời đất, nằm trong trời đất. Quy luật biến hoá tự thân của mỗi sự vật ông gọi là "Đức". Lão Tử cho rằng mọi vật sinh thành, phát triển và suy vong đều có mối liên hệ với nhau. Tới thời Trang Tử, tư tưởng của phái Đạo gia mang nặng tính buông xuôi, xa lánh cuộc đời. Họ cho rằng mọi hoạt động của con người đều không thể cưỡng lại "đạo trời", từ đó sinh tư tưởng an phận, lánh đời. Phái Đạo giáo sinh ra sau này khác hẳn Đạo gia, mặc dù có phái trong Đạo giáo tôn Lão Tử làm "Thái thượng lão quân". Hạt nhân cơ bản của Đạo giáo là tư tưởng thần tiên. Đạo giáo cho rằng sống là một việc sung sướng nên họ trọng sinh, lạc sinh. Pháp gia[sửa] Ngược hẳn với phái Nho gia, phái Pháp gia chủ trương "pháp trị", coi nhẹ "lễ trị". Tiêu biểu cho phái Pháp gia là Hàn Phi Tử, một kẻ sĩ thời Tần Thuỷ Hoàng. Theo Hàn Phi Tử, trị nước chỉ cần pháp luật nghiêm minh, rõ ràng, dễ hiểu với mọi người, không cần lễ nghĩa. Ông cho rằng trị nước cần nhất 3 điều Pháp đó là phải định ra được pháp luật nghiêm minh, rõ ràng, dễ hiểu, công bằng với mọi người, không phân biệt đó là quý tộc hay dân đen. Thế Muốn thực thi pháp luật thì các bậc quân vương phải nắm vững quyền thế, không chia sẻ cho kẻ khác. Thuật đó là thuật dùng người. Thuật có 3 mặt bổ nhiệm, khảo hạch và thưởng phạt. Thuật bổ nhiệm là khi chọn quan lại chỉ căn cứ vào tài năng và lòng trung thành, không cần dòng dõi, đức hạnh. Khảo hạch là phải kiểm tra công việc thường xuyên. Thưởng phạt thì chủ trương "ai có công thì thưởng, ai có tội thì trừng phạt thật nặng, bất kể là quý tộc hay dân đen", trọng thưởng, trọng phạt. Mặc gia[sửa] Người đề xướng là Mặc Tử Khoảng giữa thế kỷ V TCN đến giữa thế kỷ IV TCN. Hạt nhân quan điểm của Mặc gia là nhân và nghĩa. Mặc Tử còn là người chủ trương " thủ thực hư danh" lấy thực đặt tên. Quan điểm của phái Mặc gia đầy thiện chí nhưng cũng không ít ảo tưởng. Từ đời Tần, Hán trở về sau, ảnh hưởng của phái Mặc gia hầu như không còn đáng kể. Trang phục[sửa] Hán phục áo Xường xám. Các tầng lớp khác nhau trong xã hội vào những thời kỳ khác nhau theo những xu hướng phục trang khác nhau, màu vàng thường được dành riêng cho hoàng đế. Lịch sử phục trang Trung Quốc trải hàng trăm năm với những cải cách đa dạng và đầy màu sắc nhất. Trong triều đại nhà Thanh, triều đại huy hoàng cuối cùng của Trung Quốc, đã xảy ra những thay đổi về trang phục đột ngột và ấn tượng, quần áo của thời đại trước nhà Thanh được gọi là Hán phục hoặc trang phục Trung Hoa truyền thống nhà Hán. Nhiều biểu tượng như phượng hoàng được sử dụng cho mục đích trang trí cũng như kinh tế. Ẩm thực[sửa] Sự đa dạng áp đảo khổng lồ của ẩm thực Trung Quốc chủ yếu đến từ việc các hoàng đế triều đại tổ chức những bữa tiệc với 100 món mỗi bữa ăn. Vô số các nhân viên nhà bếp hoàng gia và phi tần cùng tham gia vào quá trình chuẩn bị thức ăn. Theo thời gian, nhiều món ăn trở thành một phần văn hóa hàng ngày của người dân. Một số các nhà hàng cao cấp nhất có những công thức nấu ăn gần với thời kỳ triều đại các vua chúa gồm nhà hàng Phòng Sơn ở Công viên Bắc Hải tại Bắc Kinh và Pavilion Oriole. Có thể cho rằng, tất cả các chi nhánh Hồng Kông dù theo phong cách ẩm thực hoặc thậm chí là phong cách Mỹ thì theo một cách nào đó vẫn có nguồn gốc từ văn hóa các triều đại Trung Hoa.
LỜI MỞ ĐẦUTiếng súng của cuộc chiến tranh thuốc phiện 1839 -1842 đã mở đầu thời kỳ lịch sử cận đại Trung Quốc. Theo các học giả, đây là thời kỳ Trung Quốc phải trải qua những năm tháng đấu tranh đầy phức tạp và bi tráng trong lịch sử Trung lại lịch sử Trung Quốc hơn 2000 năm trước - thời kỳ Xuân thu - Chiến Quốc - chúng ta lại hình dung thấy sự động loạn của xã hội trong giai đoạn chuyển mình lịch sử. Đó chính là mảnh đất màu mỡ cho những tinh hoa nảy nở. Nhìn lại lịch sử cận đại – quãng thời gian cách chúng ta chưa là bao – nhưng dấu ấn thời đại dường như còn vẹn nguyên và vẫn đang được các học giả từng ngày làm sáng rõ thêm giá trị lịch sử của nó, để chúng ta cảm nhận rõ sức mạnh lịch sử, sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại lớn lao như thế nào. Bởi kết quả lịch sử chuyển mình này là sự thai nghén nên một đất nước Trung Hoa phát triển như vũ bão ngày nay – một xã hội Trung Hoa đổi mới hoàn toàn diện mạo, bước vào một nấc thang phồn vinh chưa từng có trong lịch sử. Chúng ta đang sống ở thời kỳ hiện đại hoá - thế giới là một “làng địa cầu” được thu nhỏ bởi sự gắn kết các mối quan hệ con người, vì thế yêu cầu hội nhập phát triển của các nước là tất yếu. Hơn nữa nước ta và Trung Quốc là nước anh em láng giềng, có chung hệ tư tưởng và chung khát vọng phát triển dân tộc, để có được bước đi đúng đắn và có hiệu quả hơn, thiết nghĩ những bài học lịch sử như vậy như những bản đồ định hướng phát triển thật hữu ích biết bao. Bài tiểu luận xin được đề cập tới vấn đề Trung Quốc khát vọng chuyển mình và phát triển hội nhập thời kỳ cận đại hoá nhằm toát lên vấn đề +Muốn xây dựng một đất nước phát triển cùng xu thế phát triển chung của thế giới buộc phải đi theo con đường mở cửa và hội nhập.+Muốn thực hiện được con đường phát triển đất nước thì phải thực hiện đoàn kết dân tộc và một vài vấn đề liên quan được đề cập cụ thể hơn trong quá trình nêu lên các sự kiện lịch sử và phân tích những cái đạt được và chưa đạt được của các sự kiện .NỘI DUNG1. Bối cảnh quốc tếThế kỷ 16 các nước phát triển trên thế giới như Bồ Đào Nha,Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh … bắt đầu hình thành hình thái xã hội TBCN. Theo Mác thì sự chuyển biến này có tính quy luật. Nghĩa là một xã hội tư bản tiến bộ, phát triển hơn sẽ ra đời thay thế xã hội phong kiến bảo thủ lạc hậu. Luồng gió TBCN phương Tây bắt đầu lan toả rộng khắp hành tinh. Biểu hiện đầu tiên và cụ thể nhất là bước chân của các nhà phát kiến địa lý và thám hiểm Crôtop-Côlômbô, Ma-zen-lang, những cuộc lùng kiếm thị trường Châu Phi, Châu Á của những tên tư bản da trắng Cơn gió tư bản phương Tây lớn mạnh dần thành bão lốc tràn sang phương Đông. Nó mang trong mình tham vọng tìm kiếm hương liệu, vải lụa, châu báu, Nước Anh sau khi đánh thắng Hà Lan, chế tạo thành công máy hơi nước tạo cơ sở cho cuộc cách mạng công nghiệp Anh 1640 và trở thành nước tiên tiến nhất thế giới. Phương Đông đối với phương Tây khi đó như một miền đất lạ, bí ẩn nhưng giàu có trù phú vô cùng, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ. Thời gian đó Trung Quốc được coi là miền đất giàu tiềm năng, đầy hứa hẹn bởi dân số đông lãnh thổ rộng lớn, nền văn minh văn hoá lâu đời. Điểm đến đầy ma lực đó càng thôi thúc Anh và các nước tư bản phương Tây. Trung Quốc lúc này đang êm đềm bình yên trong giấc mộng mị bá chủ của Bối cảnh đất nước Trung HoaNhư mọi người đều biết lịch sử Trung Hoa là sự nối tiếp lâu dài và liên tục. Trung Quốc luôn tự hào là “Thiên Triều đệ nhất”. Quả thật trong phạm vi khu vực và phạm vi lịch sử cổ, trung đại đó là sự thật. Song sự bảo thủ của chế độ Phong kiến trở thành thâm căn cố đế, và những ý thức quá tự tôn dân tộc đó đến giai đoạn này không còn đúng giá trị Lỗ Tấn từng nhận định rằng Phép thắng lợi tinh thần của người Trung Quốc chính là tích thích sĩ diện mà 2thích sĩ diện chính là cương lĩnh tinh thần thể hiện rõ nhất qua nhân vật AQ.Điều thậm tệ là nó bắt đầu phát huy tính phản tác dụng. Điểm qua bằng các điều ước mà nhà Thanh lần lượt kí với các cường quốc để thấy được sự ươn hèn của chế độ phong kiến thoái trào. Từ điều ước Nam Kinh, điều ước Bắc Kinh, điều ước Thiên Tân, điều ước Mã Quan , đồng thời cũng thấy được khát vọng thay thế chế độ chính trị đã lỗi thời, khát vọng vươn lên phát triển làm giàu, khát vọng tìm đường đi cho dân tộc của nhân dân Trung mặt đại diện xã hội phong kiến lúc bấy giờ là giai cấp thống trị Mãn Thanh. Hội tụ ở đó có lẽ hầu hết những gì xấu xa, cặn bã nhất của một chế độ phong kiến mạt kì. Không chỉ là những cái thủ cựu của một triều đại đang bước vào giai đoạn cuối mà còn là những bảo thủ ngu dốt nhất của một thời đại đình Mãn Thanh vốn là một dân tộc du mục sống bằng nghề săn bắn hái lượm .Họ vượt vạn Lý Trường Thành vào xâm lược Trung Quốc. Hành động này vốn đã gây nên hố ngăn cách dân tộc. Những chính sách phân biệt dân tộc càng tăng thêm sự kì thị về chủng tộc. Mâu thuẫn dân tộc khi đó càng gay kinh tế chủ yếu phục vụ giai cấp phong kiến. Các quan lại ra sức vơ vét của cải trong khiến đời sống nhân dân không thể phát triển hơn được nữa. Khi Anh đặt quan hệ thông thương buôn bán, triều đình nhà Thanh không đủ trí tuệ ,sự khôn khéo để đối phó với thương nhân Anh. Thuốc phiện đã làm mu muội đầu óc của phần lớn quan lại và một bộ phận nhân dân cũng sa vào cảnh hút sách, đói kém mặc cho vận mệnh đất nước trước sự nhòm ngó, đe doạ xâm lược của nước lúc đó triều đình Mãn Thanh còn thi hành chính sách “bế quan toả cảng” cấm thương nhân và giáo sĩ truyền đại. Chính sách tự vệ phòng thủ này đủ thấy rõ sự yếu kém của triều Thanh . Trong khi đó người dân rên xiết vì đói, vì áp bức. Không khí nặng nề bao phủ cả Trung Quốc đương thời. Rất may là ý chí chiến đấu của một bộ phận nguời có ý thức đến vận mệnh đất nước vẫn âm ỉ nhen nhúm. Đây là cơ sở châm ngòi cho các cuộc đấu tranh sau Các cao trào làn sóng đấu tranh của nhân dân Trung Hoa3Sự kiện Lâm Tắc Từ đốt 2 vạn hòm thuốc phiện được nhân dân reo hò hưởng ứng. Nó đụng chạm tới quyền lợi của những người cấu kết với Anh và làm thiệt hại nguồn hàng lớn của chúng . Ngọn lửa của ông thắp lên ngọn lửa chiến tranh thuốc phiện. Đồng thời thắp lên ngọn lửa đấu tranh trong nhân dân. Cuộc chiến tranh thuốc phiện mở đầu thời kì đấu tranh của nhân dân Trung Hoa mong thực hiện khát vọng chuyển mình. Cụ thể là nhân dân Tam Nguyên Lý. Dù rằng đây chỉ là cuộc đấu tranh mang tính chất bùng phát và nhỏ lẻ “nhân dân 103 thôn vùng Tam Nguyên Lý Quảng Châu tập hợp lại, nổi dậy chống thực dân Anh để bảo vệ xóm làng .” Kết quả là triều đình Mãn Thanh đầu hàng, cuộc đấu tranh không có kết quả nhưng vẫn để lại một trang sử vẻ vang, cổ vũ tinh thần đấu tranh chống xâm lược trong toàn nhân quả của cuộc chiến tranh nha phiến chính là bài học lớn cho nhân dân Trung Hoa .Thể hiện đầu tiên là triều đình Mãn Thanh cách chức Lâm Tắc Từ và cho tiêu diệt những người của vậy vô hình chung đã đình chỉ việc cấm thuốc phiện .Thứ đến sự nhượng bộ dẫn đến việc ký kết điều ước Nam Kinh, điều ước Hổ Môm. Nội dung của điều ước Nam Kinh là cắt đất Hương Cảng cho Anh, đền 21 triệu bảng Lần đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa chấp nhận cắt lãnh thổ cho giặc ngoại xâm. Đây là nỗi nhục nhã đối với triều đình Mãn Thanh và cả dân tộc. Niềm tự hào về một dân tộc đứng trên các dân tộc. Bây giờ chỉ là hư danh Thực lực của một đất nước Trung Hoa hùng mạnh xưa kia giờ đây chỉ như một bộ máy rệu rã với các tên quan lại qụy lụy vì thuốc phiện và súng đạn . Nhưng nỗi khổ vẫn thuộc về nhân dân. Quan lại càng ra sức cướp bóc của cải của dân phục vụ cho những nhu cầu trước của chúng và cung phụng cho bọn thực dân .Cuộc chiến tranh thuốc phiện theo quy luật đã thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình. Nó chính là công cụ của kẻ mạnh đi chi phối kẻ yếu, kẻ lạc hậu. Theo Mác “Thực dân Pháp nếu không cuốn những vùng lạc hậu trên thế giới thì nó chưa thể thực hiện đuợc sứ mệnh của mình.” Nếu thế, nó không thể tồn tại được. Thuốc phiện đã gõ cửa Trung Quốc. Cuộc chiến tranh thuốc phiện 4đã có nhiệm vụ phá vỡ xã hội cổ truyền phong kiến quá lạc hậu ở Trung Quốc - một nền sản xuất không còn phù hợp với thời đại và sẽ đưa vào đó một quan hệ sản xuất mới chắc chắn tiến bộ hơn, mô hình xã hội chắc chắn làtiên tiến ra,khi đó cơn lốc tư bản phương Tây còn làm nhiệm vụ lịch sử với cả xã hội phương Đông mà Lê Nin gọi thời kì này là thời kỳ “ Châu á thức tỉnh”.Mỗi dân tộc đều có những phản ứng khác nhau. Dân tộc Trung Hoa do có trở ngại lớn là thành trì phong kiến còn khá kiên cố, lại không đủ tỉnh táo, cứng rắn và mềm dẻo trong vịêc ngoại giao, đoàn kết cùng nhân dân đấu tranh. Nên sự chuyển mình tỉnh giấc của dân tộc Trung Hoa phải trả bằng giá đau đớn hơn nữa chứ không dừng lại ở các điều ước sau chiến tranh thuốc lại Nhật Bản - một đất nước so sánh với Trung Quốc thì ở phương diện nào cũng thấy khập khiễng. Thế mà, nhờ có sự thức tỉnh đúng lúc, nhận thức thời đại đúng theo quy luật phát triển của nó đặc biệt thái độ học hỏi “cầu thị ”, “Bất xỉ khả vấn” Không xấu hổ hỏi người dưới mình đã đưa cuộc Cách mạng Minh Trị thành công, nước Nhật nhanh chóng thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu, thoát cảnh xâm lược và còn vươn lên làm cường quốc cùng các nước khi Lan cũng khôn khéo làm đệm cho tư bản để không bị xâm mới biết, vai trò nhận thức thời đại của những lãnh tụ quan trọng như thế nào. Và quy luật đào thải của lịch sử đúng cho bất cứ quốc gia nào. Như Tôn Trung Sơn từng nói Triều sóng của thế giới đang cuộn cuộn chảy, xuôi dòng thì sống, ngược dòng thì chết. Nước Trung Hoa có bề dày lịch sử huy hoàng vẻ vang lớn mạnh là thế. Chỉ vì từ chối quy luật lịch sử, đi ngược lại quy luật thời đại quy luật mở cửa hội nhập đã bị lịch sử đáp trả bằng một cú đánh đau đớn đáng tiếc là gã khổng lồ Trung Quốc khi đó vẫn chỉ biết giãy giụa trong đau đớn, gắng gượng tìm lối thoát một cách bất lực suốt gần một thế kỉ bởi sự kìm kẹp phong toả của các thế lực phong kiến và thực dân tư cuộc chiến tranh thuốc phiện, xã hội Trung Quốc bước vào thời kì nửa phong kiến nửa thực dân. Cả vùng nông thôn rộng lớn Trung Quốc trở thành thị trường tiêu thụ hàng hoá và nơi cung cấp người lao động rẻ mạt. 5“Ngoài thực dân Anh, hầu như tất cả các nước đều tham gia buôn bán thuốc phiện ở Trung Quốc”, hàng hoá nước ngoài tràn vào rất nhiều và rẻ, thương nhân bất bình trong việc buôn bán với nước ngoài. Nhân dân phải mua bạc trắng với giá cắt cổ để nộp thuế, những lúc giáp hạt, mất mùa người dân còn bị bọn cho vay nặng lãi bóc lột thêm. Sự biến động về kinh tế làm cho xã hội Trung Quốc phân hoá nhanh chóng. Nó là bộ dạng dị hình của CNTB, nó không lệ thuộc vào một chế độ bù nhìn yếu đuối như Việt Nam cùng thời nhưng nó vẫn chịu một sự lệ thuộc gián tiếp từ nước ngoài. Tôn Trung Sơn nhận xét đây là “một xã hội nửa dơi nửa chuột”. Thế đứng chông chênh luôn ở trạng thái mất hết chủ quyền. Bọn thống trị Mãn Thanh thì không còn gì trông cậy nữa người dân thì chới với hoang mang không điểm bấu víu. Đối mặt trước vấn đề độc lập chủ quyền, người dân có ý thức đấu tranh sục sôi hơn cả. Họ nhận thức rằng kho tàng văn hoá ngàn năm hay của cải chất đống trong kho lẫm cũng không đủ mạnh đánh lại súng đạn. Sự cam chịu cũng không mang lại cuộc sống yên bình cho họ. Chỉ có đấu tranh bằng bạo lực mới mong thoát khỏi cuộc sống thực tại. Nổi lên khi đó là Hồng Tú Toàn - một thanh niên trí thức có nhiệt huyết với dân tộc với đất nước. Đúng lúc ông cảm thấy bất mãn với chế độ xã hội thì ông gặp giáo lý cơ đốc giáo. Mệnh đề thiên hạ nhất gia cộng hưởng thái bình” thật phù hợp với tư tưởng bình quân chủ nghĩa của người nông dân. Sức hấp dẫn đó đã lay động, thôi thúc ông. Ông cùng người bạn lập ra Thượng Đế hội. Khát vọng đổi đời bấy lâu của người dân trở thành động lực, thành cơ sở thu hút nông dân tham gia. Lực lượng dần lớn mạnh và có thể làm cách đích đấu tranh là xây dựng xã hội đại đồng, công bằng như thiên đường trong kinh thánh. Thế nên chỉ trong thời gian ngắn 3 năm phong trào tiến một chặng đường dài, giành thắng lợi trên 18 tỉnh thành -phong trào tồn tại trong 14 năm và bị thất bại. Phong trào thất bại vì phong trào còn tồn tại nhiều điều bất cậpThứ nhất Chủ trương xây dựng một xã hội đại đồng - Đây chỉ là lời kêu gọi chứ nó không có tính hiện. Người nông dân là người có bản chất tự tư, tự lợi, an phận. Hơn nữa, thắng lợi đến quá chóng vánh khiến họ choáng ngợp vì 6lợi danh, dễ thoả mãn với thành quả cách mạng. Mọi người quay về hưởng thụ cá nhân. Điều này làm nhụt ý chí chiến đấu và tinh thần đại đoàn kết dân tộc của đại bộ phận nhân dân .Ý tưởng xây dựng một xã hội đại đồng như thế chẳng phải đó là mô hình xã hội cộng sản nguyên thuỷ hay sao? Cách làm đó đúng hơn là một sự hoài niệm quá khứ mà lịch sử là tiến trình phát triển đi lên .Thứ nữa Nội bộ những người lãnh đạo cũng chưa chuẩn bị sẵn sàng cho một chính quyền mới - một chính quyền đòi hỏi sự tôi luyện và biết vuợt ước, yêu nước thì phải làm Duy Tân được coi là có những bước thử ngiệm tương đối hoàn chỉnh và có tính khả thi hơn hạn chế lịch sử khiến Trung Quốc chưa đánh giá được giá trị to lớn và tính thực tiễn của nó nên phong trào cuối cùng đã rơi vào sự tuyệt vọng, nuối tiếc của bao thế hệ. Tính thực tiễn trước hết thể hiện ở việc tuyên chiến quyết liệt với chế độ phong kiến -chế độ quân chủ chuyên quyền độc đoán, đặng chuyển Trung Quốc sang hình thức mới là chế độ cộng hoà, nền chính trị dân quyền - tức chủ trương xoá bỏ nền sản xuất tự nhiên chứa đầy tính bảo thủ trì trệ sang một nền sản xuất hàng hoá mang tính xã hội. Điều này phản ánh rõ hơn con đường phát triển chung của nhân loại. Vì thời kỳ cận đại có nghĩa là thời đại TBCN, sự già cỗi của xã hội phong kiên sẽ phải thay thế bằng một xã hội TBCN đang tràn sức xuân. Nhưng Trung Quốc lúc này do triều đình Mãn Thanh hèn yếu bất lực chèo chống nên nảy sinh tư tưởng chưa thể “xoá” thì phải “cải”. Các chiến sĩ trong phong trào Duy Tân qua bài học thực tế của phái Dương Vụ, đặc biệt qua bài học Nhật Bản đã thấy rõ một vấn đề quan trọng của cải cách trưóc hết phải cải Dương Vụ sở dĩ thất bại, không tạo ra một thực lực vì guồng máy chính trị cũ kỹ rệu rã, thủ cựu không thể vận hành bảo đảm cho một xã hội phát triển .Trong khi Nhật Bản thay đổi quyền lực, tổ chức một guồng máy chính trị mới là một bằng chứng thực tế sống động thôi thúc các nhà Duy Tân cải chế. Với nội dung cải chế về bộ máy chính trị, hệ thống quan lại, cách tuyển lựa người tài nhiều lần được Khang Hữu Vi đệ thư lên vua Quang Tự. Hàng loạt các vấn đề nêu ra như vậy cùng những khát khao kết thúc chế độ quan trị dân, lừa dân, ngu dân, thay một bộ máy chính trị dân chủ, bộ máy chính quyền vì dân làm ước xây dựng một bộ máy như vậy quả thực cho tới nay vẫn còn là mục tiêu hàng đầu của các nhà lãnh đạo cấp tiến, tiếc rằng ý tưởng của họ không được các nhà cầm quyền triều Thanh chấp nhận dù vua Quang Tự rất tán thành nhưng ông chỉ là “hữu danh vô thực” mà thôi. Mọi quyền lực đều nằm trong tay phái bảo thủ do Từ Hi Thái Hậu đứng đầuTính thực tiễn của phong trào còn thể hiện ở tư tưởng cách mạng về kinh tế xã ta đã biết tư tưởng coi thường thương nghiệp vốn là tư tưởng cố hữu của Nho giáo Trung Quốc. Tư tưởng “nông bản thương mạt” đã chi phối lâu dài trong lịch sử Trung Quốc. Nhân dân Trung Hoa muốn thoát khỏi cảnh nghèo và lạc hậu hiện nay nhất định phải thay bằng tư tưởng “Dĩ thương lập quốc” và “thượng công”. Đây là xương sống tạo cho đất nước chuyển mình, tư tưởng này được các học giả đánh giá là “mang tính cách mạng” vì tư tưởng này đã tuyên chiến với tư tưởng “nông vi bản” ngàn đời ở Truung nói rằng, sự xâm thực của đế quốc, thực dân tư bản Âu-Mỹ đã tạo nên một lực đẩy đối với kinh tế xã hội Trung Quốc. Những nhà Duy Tân thông qua thực tiễn lịch sử, ý thức được sứ mệnh nền kinh tế sản xuất hàng hoá TBCN. Do lập luận, nhận thức của phong trào còn thô sơ mới chỉ nắm bắt được bản chất vấn đề mà ý tưởng mới, những nhận thức mới về thương nghiệp của họ có thể xếp vào vị trí hàng đầu các nhân vật lịch sử tiên phong cho con đường hội nhập, phát triển củaêTrung Quốc thời cận đề cuối cùng cũng được coi là vấn đề mang tính thực tiễn đó là phong trào cải cách học phong - giáo dục nhân thế đã và đang thay đổi tư tưởng “ thiên bất biến, đạo bất biến” không thể tồn tại được nữa. Thực tế vừa qua đã chứng minh rằng súng đạn kỹ thuật tàu chiến phương tây sẵn sàng bắn phá tất cả thành trì luân lý phong kiến Trung Quốc nghìn năm nay. Do đó Trung Quốc dù muốn hay không cũng phải thay đổi bởi “thiên dĩ biến, đạo diệc tuỳ biến”.Thay đổi tư tưởng thâm căn cố đế của cả một dân tộc quả là điều không dễ. Khang Hữu Vi - lãnh tụ phong trào - chủ trương bắt đầu từ học phong. Lối sùng bái cách học cũ sùng bái tư tưởng cũ đã kìm hãm tư tưởng, kìm hãm mọi sự bắt đầu của xã hội cần phải phá vỡ. Sau đó người dạy phải giữ được cái tâm trong sáng để giảng sử và cuối cùng là học phương tây, học tri thức cấp tiến nhân loại chứ không chỉ học tri thức giáo loạt hoạt động cải cách học phong như các sĩ tử liên hiệp nhau ký tên lên “vạn ngôn thư” là sự tuyên chiến đòi tự do của tri thức đối với chế độ phong kiến bảo thủ. Lập cường học hội với mục đích tìm ra cái thực dụng của việc học, và tìm ra câu trả lời thời đại. Song phong trào mới chỉ đứng trên lập trường của tầng lớp tri thức, chỉ tập trung giải quyết những bức xúc của tầng lớp mà chưa nhìn thẳng vào thực tế nhân dân Trung Quốc. Những con người cần no bụng hơn bất cứ cái gì khác và sức mạnh chiến đấu cũng chính nơi họ đặc biệt là giai cấp nông dân. Sức mạnh trở thuyền và lật thuyền là ở đó chứ đâu. Tất nhiên sự thất bại của phong trào còn do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác như họ chưa nắm được quyền lực trong tay, kẻ thù dân tộc còn quá mạnh không muốn Trung Quốc Duy Tân thành công để dễ bề thao túng…4. Bước đầu thành công Đối với Duy Tân là dùng vũ khí phê phán. Nhưng thời kỳ dùng lý lẽ tạo nên sức mạnh đoàn kết như thời kỳ du thuyết Xuân Thu Chiến Quốc đã qua rồi .Cái vũ khí mà Trung Quốc cần hiện nay là súng đạn chứ không phải vũ khí phê bình. Ngoài ra còn có một thứ vũ khí tinh thần hết sức quan trọng, đó là sự đoàn 10kết toàn dân tộc. Cuộc cách mạng Tân Hợi lật đổ nhà Thanh cũng phần nào khai thác được sức mạnh giai đoạn cuối của thời kỳ đấu tranh này nổi lên một nhân vật mà sau này tên tuổi của ông sánh ngang với các nhà lãnh đạo cận hiện đại Trung Quốc là Tôn Trung Trung Sơn ngay từ khi còn nhỏ đã rất khâm phục Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu. Lớn lên, ông tiếp xúc với nền văn hoá phương tây, nhìn lại các cuộc đấu tranh vừa qua ông thấy được quy luật vận động của lịch sử Trung Quốc phải gắn liền với thế giới, ông tìm ra những bước đi cần thiết và nhiệm vụ mà Trung Quốc phải làm. Thời gian đó vấn đề nổi bật ở thuyết tam dân là vấn đề dân tộc, ông chú trọng dân tộc Mãn. Ông chỉ rõ dân tộc Trung Hoa sở dĩ rơi vào tình cảnh này là vì chế độ Mãn Thanh ngu dốt, bộ máy quan lại cồng kềnh đeo bám người nông dân khiến không kinh tế không thể phát triển được, khiến người nông dân bị thiệt thòi quá tộc Mãn Thanh từ lâu đã là kẻ cướp nước đối với dân tộc Hán. Điều này càng kích động lòng dân đứng lên chống triều đình Mãn Thanh. Ông đề cập đến vấn đề dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Mong muốn xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tư tưởng nhân văn và tiến bộ này tiếp thu từ các học giả ưu thời Khổng, Mạnh, Licoln trở thành những lý luận cách mạng. “Mà lý luận cách mạng một khi đi vào quần chúng, hấp dẫn quần chúng sẽ tạo nên một xung lực to lớn, có khả năng lật nhào toàn bộ chế độ lỗi thời”-trích lời thầy Nguyễn Văn Hông.Cuộc cách mạng dưới ngọn cờ tư tưởng của Tôn Trung Sơn sớm thắng lợi và hoàn thành sứ mệnh lịch sử là tuyên án chế độ phong kiến Trung Quôc hàng nghìn năm. Như vậy Trung Quốc sau hơn 2000 năm tồn tại chế độ phong kiến mà cụ thể là triều đình phong kiến Mãn Thanh trải qua các cuộc đấu tranh của nhân dân và sự giúp sức của tư bản phương Tây cuối cùng cũng rút lui khỏi chính trường, nhường chỗ cho một chế độ chính trị mới cấp tến hơn .Sự tồn tại ngoan cố đó như một thế lực vô hình gông cùm sự phát triển của đất nước. Cuộc 11cách mạng tuy không giải quyết triệt để nhưng nó có ý nghĩa rất lớn đối với dân tôc Trung hết nó đem lại một diện mạo mới cho xã hội Trung Quốc. Người dân đã phá bỏ được cái “lọng rách” của triều đình nhà đến trong quá trình đấu tranh tư tưởng cộng hoà dân chủ ăn sâu bám rễ vào quần chúng tạo điều kiện cho tư tưởng dân chủ cách mạng phát triển trong lòng đất nước Trung Hoa trang bị hành trang cho cuôc chiến trường chinh mới đó là cuộc chiến chống ngoại xâm và bè lũ phản động. Nhưng bài học quan trọng hơn cả là làm sao để đoàn kết toàn dân tộc. Nếu ông không quá nhấn mạnh yếu tố dân tộc Hán và dân tộc Mãn Thanh. Khi lấy được lòng dân thì đoàn kết cùng các dân tộc anh em trên đất nước đánh giấc kiên quyết tiêu diệt phe cánh với đế quốc, thì có lẽ ông đã không nhường quyền lợi của cá nhân ông nói riêng, quyền lợi dân tộc nói chung sang tay Viên Thế Khải. Người dân là nguồn sức mạnh to lớn nếu trong học thuyết của Tôn Trung Sơn đề cập tới vấn đề ruộng đất cho nông dân. Vì Trung Quốc đại bộ phận là nông dân, ông chưa nhìn thấy sức mạnh của họ và nuôi nhiều ảo tưởng về đế quốc dẫn đến lý do thất bại cũng một phần chủ quan ở ông. “Tôn Trung Sơn là người nhẹ dạ cả tin” Bí mật về tám vị tổng thống Trung Hoa - T1 ông luôn trăn trở làm thế nào để Trung Quốc giàu và mạnh vì chỉ có giàu mạnh TQ mới thoát khỏi bị xỉ nhục và bị bắt vậy các cuộc đấu tranh, các phong trào duy tân trong thời kỳ này chưa thực sự giải đáp được vấn đề lớn của dân tộc Trung Hoa- giàu và mạnh. Trong quá trình chuyển mình thực hiện khát vọng phát triển và hội nhập Trung Quốc, các phong trào dù ở khía cạnh này hay phương diện kia đều có hạn chế nhất định. Có một vấn đề mà hầu hết các phong trào đều làm chưa tốt hay chưa chọn vẹn là người dân Trung Hoa. Khi các nhà thống trị muốn đạt mục đích thì dùng thủ đoạn để kêu gọi, dụ dỗ họ góp sức góp của. Họ mới chỉ được sử dụng như một công cụ, một con rối cho các phong trào điều khiển. Cuộc cách mạn Tân Hợi được coi là sử dụng súc dân hiệu quả nhất nhưng cũng chưa thực sự12đưa lại kết quả cuối cùng tốt đẹp cho họ. Số phận của họ thật rẻ rúng và đáng thương biết bao. Chỉ đến khi tư tưởng của chủ nghĩa Mác đi vào quần chúng nhân dân Trung Hoa, giác ngộ họ thì lúc đó vị trí con người ở họ được thức LUẬNThời kỳ lịch sử cận đại Trung Hoa là thời kỳ đầy máu và nước mắt. Đã có bao nhiêu thế hệ cha anh ngã xuống trong các cuộc chiến liên miên với Anh 1840-1842, với Pháp, với Nhật 1894-1895, đan xen các cuộc nội chiến. Đã có không biết bao nhiêu con người trăn trở day dứt những mong tìm ra lối thoát cho dân tộc. Những khoản bồi thường bạc trắng cho các đế quốc, những điều ước bán nước đầy nhục nhã. Những hy sinh mất mát đó dòng dã kéo gần một thế kỷ 1840-1911.Người dân không lúc nào không thôi than khóc vì sự dày xéo của giặc ngoại xâm, và luôn bị rên xiết vì sự áp bức của bọn thống trị nhà Thanh. Đó là một chặng đường thật bi thương và bi hùng quá. Trong quá trình tìm con đường phát triển,Trung Quốc phải trả giá quá đắt. Song Trung Quốc hiện nay chính là câu trả lời, là sự bù đắp lại những gì mất mát, những gì cha ông họ chưa thực hiện được. Ma Cao1995, Hồng Kông1997, lần lượt trở về Trung Quốc, vấn đề Đài Loan cũng đang được chính phủ và nhân dân Trung Quốc quan tế phát triển, chính trị trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Trung Quốc hiện nay khiến cả thế giới giật mình kinh hoàng vì sự phát triển của vậy đất nước Trung Hoa từng kì vọng chuyển mình và phát triển hội nhập từ cận đại hoá đến hiện đại hoá vẫn luôn là đề tài hấp dẫn, mang tính thời đại đối với các nhà nghiên cứu và những người yêu thích đất nước Trung Hoa. 13TÀI LIỆU THAM KHẢO1. Bí mật về tám vị tổng thống Trung Hoa-T1 cb Vương Hiếu Minh- Nxb Chính trị quốc gia - 2001 2. Lịch sử thế giới cận đại - Vũ Dương Ninh - Nguyễn Văn Hồng- Nxb Chinh trị quốc gia - 20023. Lịch sử cận đại Trung Quốc T1- nd Trần Văn Giáp- bs Đinh Hiểu Tiên - 19??4. Mấy vấn đề về lịch sử Châu Á- và lịch sử Việt Nam - Một cách nhìn Nguyễn Văn Hồng- Nxb Văn hoá dân tộc - 20015. Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc 1. Một trăm năm phong trào Duy Tân Mậu Tuất1898 -1998… Nguyễn Văn Hồng Số 6 / 19982. Cải cách học phong…Nguyễn Văn Hồng3. Những con đường du nhập Tây học…MỤC LỤC14
Ngày đăng 06/12/2021, 1534 “Văn minh” là món quà của Thượng đế ban cho chúng ta. Văn minh là những phát minh và những sự tiến bộ có từ lâu đời và chúng ta là những thế hệ sau cần tìm hiểu nó. Đặc biệt là trong bộ môn Lịch sử văn minh thế giới càng cung cấp cho chúng ta nhiều kiến thức cho chúng ta. Tôi chọn nền văn minh Ấn Độ là đề tài nghiên cứu vì Ấn Độ có thể coi là cái nôi của văn minh, của sự tiến bộ. Mục đích và đối tượng nghiên cứu đề tài Dựa trên cơ sở nghiên cứu nền văn minh ở Ấn Độ cùng với những thành tựu và công trình nghiên cứu đặc sắc, tiểu luận mang đến cách nhìn tổng quát nhất cho người đọc Đối tượng nghiên cứu bao gồm những thành tựu văn minh Ấn Độ cùng với sự phát triển của văn minh qua các thời kì. Phạm vi nghiên cứu Về mặt không gian toàn lãnh thổ Ấn Độ và các nước lân cận có liên quan đến sự hình thành nền văn minh Về mặt thời gian từ trước Công Nguyên đến hiện tại, bắt đầu từ thời kì văn minh sông Ấn. Phương pháp nghiên cứu Sử dụng nhiều công cụ, phương pháp và nguồn để nghiên cứu. Bao gồm sách tham khảo, các trang báo và tài liệu điện tử. Sử dụng phương pháp tổng hợp, liệt kê, quy nạp, so sánh, trích và phân tích đánh giá. Cấu trúc Gồm 6 chương CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ẤN ĐỘ CHƯƠNG 2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CHƯƠNG 3 THÀNH TỰU VỀ VĂN HỌC ẤN ĐỘ CHƯƠNG 4 THÀNH TỰU VỀ NGHỆ THUẬT ẤN ĐỘ CHƯƠNG 5 THÀNH TỰU VỀ KHOA HỌC ẤN ĐỘ CHƯƠNG 6 TÔN GIÁO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LỊCH SỬ TIỂU LUẬN NỀN VĂN MINH ẤN ĐỘ HỌC PHẦN HIST100402 – LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng năm 2021 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LỊCH SỬ TIỂU LUẬN NỀN VĂN MINH ẤN ĐỘ HỌC PHẦN HIST100402 – LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI Họ tên Lưu Bảo Vy Mã số sinh viên Lớp Học phần HIST100402 Giảng viên hướng dẫn Ths Nguyễn Trà My Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng năm 2021 MỤC LỤC MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ẤN ĐỘ Vị trí địa lý khí hậu Cư dân Ấn Độ CHƯƠNG 2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH Thời kì lịch sử văn minh sơng Ấn từ kỉ III đến kỉ II TCN Thời kì Veda từ thiên kỉ II đến thiên kỉ I TCN Giai đoạn tiền Veda Rig Vedic Age 1600- 1000 TCN Giai đoạn hậu Veda Later Veda Age 1000- 600 TCN Ấn Độ từ kỉ VI TCN đến kỉ XII Vương triều Maurya 321 -187 TCN Vương triều Gupta 320 -550 Các vương triều sau sụp đổ đế chế Gupta xâm lược người Hồi giáo Ấn Độ từ kỉ XIII đến kỉ XVI Vương triều hồi giáo Dehli 1206 – 1526 Vương triều Mughal 1526- 1857 CHƯƠNG 3 THÀNH TỰU VỀ VĂN HỌC ẤN ĐỘ Ngôn ngữ chữ viết Văn xuôi thơ Sử thi Sử thi Ấn Độ vốn tiếng với hai Mahabharata Ramayana Cả hai có đặc điểm chung truyền miệng để bảo tồn truyền bá đến đời sau Tuồng kịch 11 CHƯƠNG 4 THÀNH TỰU VỀ NGHỆ THUẬT ẤN ĐỘ 12 Hội họa 12 Điêu khắc 13 Kiến trúc 13 CHƯƠNG 5 THÀNH TỰU VỀ KHOA HỌC ẤN ĐỘ 14 Thiên văn học 14 Toán học 14 Hóa học Vật lý học 15 Y dược học 15 CHƯƠNG 6 TÔN GIÁO 16 Đạo Bà La Môn đạo Hindu 16 Đạo Bà La Môn 16 Đạo Hindu Ấn Độ giáo 16 Phật giáo 16 Đạo Jain 17 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TCN Trước Công Nguyên CN Công Nguyên DANH MỤC HÌNH ẢNH Chương Hình Bản tiếng Phạn Devīmāhātmya bối, theo lối viết cổ Bhujimol, Bihār Nepāl, kỷ 11………………………….7 Chương Hình Mặt tiền chaitya Hang 19 Ajanta, Tây Bắc Deccan, Ấn Độ…………11 Hình Tượng thần Shiva – Chúa tể điệu nhảy, kỉ 11………………….13 Hình Đền Taj Mahah…………………………………………………………… 14 MỞ ĐẦU “Văn minh” quà Thượng đế ban cho Văn minh phát minh tiến có từ lâu đời hệ sau cần tìm hiểu Đặc biệt môn Lịch sử văn minh giới cung cấp cho nhiều kiến thức cho Tôi chọn văn minh Ấn Độ đề tài nghiên cứu Ấn Độ coi nôi văn minh, tiến Mục đích đối tượng nghiên cứu đề tài Dựa sở nghiên cứu văn minh Ấn Độ với thành tựu cơng trình nghiên cứu đặc sắc, tiểu luận mang đến cách nhìn tổng quát cho người đọc Đối tượng nghiên cứu bao gồm thành tựu văn minh Ấn Độ với phát triển văn minh qua thời kì Phạm vi nghiên cứu Về mặt khơng gian tồn lãnh thổ Ấn Độ nước lân cận có liên quan đến hình thành văn minh Về mặt thời gian từ trước Công Nguyên đến tại, thời kì văn minh sơng Ấn Phương pháp nghiên cứu Sử dụng nhiều công cụ, phương pháp nguồn để nghiên cứu Bao gồm sách tham khảo, trang báo tài liệu điện tử Sử dụng phương pháp tổng hợp, liệt kê, quy nạp, so sánh, trích phân tích đánh giá Cấu trúc Gồm chương CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ẤN ĐỘ CHƯƠNG 2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CHƯƠNG 3 THÀNH TỰU VỀ VĂN HỌC ẤN ĐỘ CHƯƠNG 4 THÀNH TỰU VỀ NGHỆ THUẬT ẤN ĐỘ CHƯƠNG 5 THÀNH TỰU VỀ KHOA HỌC ẤN ĐỘ CHƯƠNG 6 TÔN GIÁO CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ẤN ĐỘ Vị trí địa lý khí hậu Ấn Độ đất nước có vị địa lý đặc biệt Đây bán đảo rộng mênh mông có ranh giới với Pakistan, Trung Quốc, Myanma, Bangladesh, Nepal, Bhutan Afghanistan Ở Ấn Độ có dãy núi Himalaya tiếng, chắn ngang từ Đông Bắc Tây Bắc Ấn Độ chia làm hai miền Nam Bắc Cực Bắc Ấn Độ tỉnh Kashmir, phía Nam Kashmir miền Penjab – nghĩa “Xứ sở Năm sông” nơi đơng có sơng Indus dài ngàn dặm chảy qua Đây nơi bắt nguồn tên đất nước Ấn Độ Lặng lẽ chảy phía đơng nam sông Ganges sông Hằng Sông Hằng rộng lớn dần đến thánh địa Banares – nơi tắm gội, tẩy rửa cho hàng triệu tín đồ tơn giáo ngày dịp lễ Hai sông tạo nên hai vùng đồng mùa mỡ miền Bắc Ấn Độ nơi Thời kì văn minh lưu vực sơng Ấn Ở phía tây phía nam Rajputana nơi tập hợp thành phố dân cư nhộn nhịp đông đúc Surat, Ahmedabad, Bombay Poona cịn phía đơng nam tiểu quốc Hyderabad Mysore Ấn Độ nơi đa dạng khí hậu Từ dãy núi Himalaya đến dần xuống đảo Ceylon khí hậu nóng quanh năm Miền Bắc bị ảnh hưởng đợt gió lạnh từ dãy Himalaya đám sương mù Những lưu vực sông Punjab bồi đắp nên vùng châu thổ màu mỡ, phì nhiêu phía Nam lại bị nắng gắt khiến đồng khô cằn, thiếu nước Nơi cao nguyên Deccan khí hậu cằn cỗi nhờ gió biển nên dịu bớt nóng oi ả Ngồi ra, Ấn Độ khu vực có nhiều rừng rậm với lồi dã thú cọp, chó sói, beo, rắn độc, voi vùng đầm lầy nơi sinh sống lồi cá sấu Khí hậu phần ảnh hưởng đến tính cách quan niệm tôn giáo, triết học Những rừng có bóng mát thường nơi lý tưởng cho việc ngồi thiền, nơi tụ tập đạo sĩ Cư dân Ấn Độ Đã có nhiều dân tộc sinh sống Ấn Độ với phong tục, tập quán văn minh khác Cư dân Ấn Độ chủ yếu chia thành hai loại phân chia hai miền Nam Bắc người Aryan chủ yếu miền Bắc, người Dravidian chủ yếu miền Nam Người Aryan họ xuất phát từ vùng biển Caspian, bắt đâu ạt xâm lăng người Dravidian Aryan người có thân hình vạm vỡ, sức ăn khỏe, tính cách thơ bạo tài giỏi chiến trận nên nhanh chóng làm chủ vùng Bắc Ấn Cịn người Dravidian bị người Aryan đánh đuổi nên chạy xuống cư trú phương Nam Họ sống theo chế độ mẫu hệ, mắt đen, mũi to nước da sậm màu Khi bị xâm lăng dân tộc Dravidian văn minh Hiện phía cao nguyên Deccan, học giả cho huyết thống, ngôn ngữ, nghệ thuật văn học thuộc người Dravidian Những người nói tiếng Dravidian thường tìm thấy Ấn Độ, Pakistan, Afghanistan, Nepal, Maldives Sri nhiên, xăm lăng di cư sau nên Ấn Độ cịn có nhiều tộc người khác nên vấn đề tộc Ấn Độ phức tạp có pha trộn từ nhiều dòng máu khác Bên cạnh đó, văn minh Ấn Độ cổ đại cịn gồm nước Ấn Độ, Băngledet, Pakixtan Nepan giới ngày CHƯƠNG 2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH Thời kì lịch sử văn minh sơng Ấn từ kỉ III đến kỉ II TCN Trước đây, người ta không phát nhiều dấu tích thời kì Những chứng tích giai đoạn bị chôn vùi vào lớp đất đá Mãi đến năm 1922, nhà khảo cổ phát Mohenjo-Dero Harappa – nơi chứa nhiều di tích văn minh mà họ chưa biết đến trước Hai địa điểm cách khoảng vài trăm dặm Harappa phía Tây Punjab, thượng lưu sơng Indus cịn Mohendjo – Daro miền Sind, hạ lưu sông Indus Ở khu vực Harappa, họ phát thành phố nằm chồng lên nhau, có nhiều ngơi nhà cửa tiệm xây kiên cố, chí có ngơi nhà lầu Điều kiện sinh hoạt xã hội người dân thời phát triển, có tồn thành thị, có phịng tắm riêng, có hệ thống dẫn nước tưới tiêu Những di vật khai quật đa dạng loại hình thù có đồ gia dụng, đồ sứ, đồ gốm có hoa văn bên trên, cờ, xúc văn đồng tiền cổ họ chưa thấy trước Họ sản xuất binh khí dụng cụ đồng, nhiều lồi trang sức, vòng vàng đeo tay hay cổ chân nhiều lồi trang sức khác Ở Harappa, người ta tìm thấy dấu hình vng chữ nhật, đất nung, có hình người ngồi chéo chân tay để đầu gối, mắt nhắm, tựa đạo sĩ ngồi thiền Dựa vào vật, văn hóa sông Indus định niên đại vào khoảng 3000 – 1500 năm TCN, nhà khảo cổ học xác nhận thuộc Nền văn minh lưu vực sông Ấn Thời kì Veda từ thiên kỉ II đến thiên kỉ I TCN Thời kì Veda thời kì người Aryan xâm nhập vào Ấn Độ Họ tiến vào Ấn Độ mang theo tiếng Phạn tín ngưỡng tơn giáo họ để di cư vào Ấn Độ Gọi thời kì Veda lịch thời tập tục, sống đời thường phản ánh kinh Veda hai sử thi Mahabharata Ramayana Kinh Veda tác phẩm gồm tập Rig Veda, Sama Veda, Yajur Veda Arthava Veda Trong Rig Veda tập xưa nhất, quan trọng Indra, Varuna, Agni thần ca tụng nhiều Thời có nhiều tập tục liên quan đến tế lễ cho thần linh Thần mưa Parjanya, thần lửa Agni, thần gió Vayu, thần sấm sét Indra, thần Dayus nhiều thờ nhiều vị thần khác Thời kì Veda chia làm giai đoạn giai đoạn tiền Veda Rig Vedic Age 1600 – 1000 TCN giai đoạn hậu Veda Later Vedic Age 1000 – 600 TCN Giai đoạn tiền Veda Rig Vedic Age 1600- 1000 TCN Thời kỳ tiền Veda hay biết đến Rig Veda Trong thời, trị tổ chức hình thức lạc Bộ máy quyền người Aryan thời kỳ Rig Veda cai trị người đứng đầu thị tộc gọi Rajan tức Vua Xã hội thời xem gia đình tảng xã hội mang tính chất gia trưởng Người cha người đứng đầu gia đình gọi Grahapathi Tuy nhiên vai trị phụ nữ bình đẳng so với nam giới hưởng giáo dục, ngồi cịn nội trợ gia đình Kinh tế thời Rig Veda dựa vào săn bắn chính, họ ni trâu bị để phục vụ nơng nghiệp với loại gia súc khác Nghề thợ mộc, thợ gốm, thợ rèn phát triển Kinh tế thương mại bắt đầu phát triển thông qua việc trao đổi loại hàng hóa, vật phẩm đồng tiền sử dụng gọi nishka Về mặt tơn giáo, tín ngưỡng họ coi Thượng đế chân lý cao với việc thờ vị thần Tuy nhiên giai đoạn tôn giáo thể theo khía cạnh huyền thoại không theo hướng triết học Giai đoạn hậu Veda Later Veda Age 1000- 600 TCN Giai đoạn có kinh Upanishad nói vấn đề triết học linh hồn, luân hồi giải thoát, bên cạnh cịn đời sử thi Ramayana Mahabharata Nhà vua khơng cịn trì hệ thống quân đội binh tập hợp lạc có chiến tranh Bắt đầu xuất chế độ đẳng cấp varna dựa phân biệt chủng tộc, màu da, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo, quan hệ giao tiếp, tục cấm kỵ nhân…được hình thành thời kỳ người Aryan xâm chiếm Ấn Độ Đây giai đoạn tạo ảnh hưởng đến tư tưởng Ấn Độ thời kì cổ đại Kinh tế phát triển người Aryan Dravidan bắt đầu đồng hóa tiếp thu kĩ thuật văn minh người Dravidian Kinh tế nông nghiệp làm trọng tâm, chăn nuôi gia súc giảm khái niệm sở hữu đất đai hình thành Ấn Độ từ kỉ VI TCN đến kỉ XII Sử sách Ấn Độ bắt đầu ghi chép từ kỉ VI TCN Thời giờ, miền Bắc Ấn Độ có đến 16 nước Madaga nước mạnh nằm khu vực hạ lưu sông Hằng Alexander xâm lược phần đất phía tây nam Ấn Độ vào năm 327 TCN, phần Bắc Ấn vương triều Nanda người Ấn Độ cai quản Vương triều Maurya 321 -187 TCN Chandragupta Maurya vị vua thành lập vương triều Maurya vào năm 322 TCN việc lật đổ vương triều Nanda nhanh chóng mở rộng lực phía tây đến vùng trung tây Ấn Độ Năm 320 TCN, Chandragupta Maurya hồn tồn kiểm sốt vùng tây bắc Ấn Độ, từ vương triều Maurya trở thành lực hùng mạnh lãnh thổ Ấn Độ cổ đại, kinh đô đặt Pataliputra nay Patna cai trị từ năm 321 đến 185 TCN Năm 297 TCN, Chadragupta vào rừng, từ bỏ cõi đến chưa xác định năm ông Kế thừa cha ơng cai trị đất nước vua Ashoka Thời Ashoka 273 -236 TCN coi giai đoạn hưng thịnh phát triển nhất, bao gồm nơng nghiệp cơng thương nghiệp Thêm vào thời kì có đội qn đơng đảo thiện chiến Về mặt tôn giáo, Đạo Phật đời từ trước đến giai đoạn nhanh chóng trở thành quốc giáo Đến năm 28 TCN hoàn toàn tan rã Vương triều Gupta 320 -550 Giai đoạn ghi lại lịch sử từ vua Ashoka qua đời vương triều Gupta thành lập thấy, giai đoạn dài khoảng gần 600 năm Đầu Công nguyên, miền Bắc Ấn Độ thống lại, bước vào thời kì phát triển cao lịch sử Ấn Độ - thời Vương triều Gupta Vương triều Gupta có đời vua 319 – 467 Nền kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh mẽ, nghề luyện kim đạt trình độ cao, nghề dệt vải mở rộng Nét đặc sắc thời kì phát triển văn hóa thức Tơn giáo phát triển thời kì này, đặc biệt Phật giáo Hindu giáo Đến 535 vương triều Gupta bị diệt vong Các vương triều sau sụp đổ đế chế Gupta xâm lược người Hồi giáo Vương triều Maukharis 554 CN - 606 CN vươn lên cường quốc sau sụp đổ đế chế Gupta Khu vực cốt lõi vương quốc thủ phủ Kanyakubja hiện thành phố Kannauj ngày nay Sự lên vương quốc Kanyakubja tồn thời gian ngắn cuối gọi vương quốc sở mà đế chế tương lai tranh giành gay gắt Các vương triều Pushyabhuti hay gọi Vardhana 500 – 647 CN Khu vực cốt lõi vương quốc nằm bang Haryana Ấn Độ ngày Pushyabhutis thành lập vương quốc hùng mạnh cạnh tranh với cường quốc khác khu vực để giành quyền tối cao trị Ấn Độ thời Harsha, đạt địa vị đế quốc Người cai trị đáng ý triều đại người cai trị cuối nó, Hồng đế Harshavardhana hay cịn gọi Harsha 606 -647, ông người cai trị đáng ý triều đại người cai trị cuối đế chế vĩ đại Ấn Độ trước xâm lược người Hồi giáo Tuy nhiên, vương triều Pushyabhuti có kết giống vương triều Maukharis, tồn thời gian ngắn Sau triều đại Harsha kết thúc đầu kỷ XII, Ấn Độ bị chia cắt trầm trọng, đặc biệt bị xâm lược người Hồi giáo Cuộc xâm lược người Hồi giáo cỡ lẽ chiến đẫm máu lịch sử nhân loại Các dân tộc Hồi giáo dần tiến phương Nam, với liên kết vua Hồi xứ triệt hạ ông vua Ấn Trong giai đoạn 400 năm 600 -1000 giai đoạn Ấn Độ trở thành mồi đoàn người xâm lược Hồi giáo Mở đầu cướp bóc Multan, miền Tây Punjab năm 664 Họ chiếm đoạt nhiều chiến lợi phẩm, vơ vét kho lương thực, phá hoại đền thờ, cung điện tát sàn người dân vô tội Những tàn phá tương tự liên tục liên tục diễn thập kỉ Năm 997, thủ lãnh tên Mahmud làm vua cai trị tiểu quốc Ghazni, miền đơng Afghanistan có ý định xâm chiếm Ấn Độ Mahmud cho đội quân tàn sát kẻ thù, cướp phá thị, tàn sát dân chúng để thu kho tàng châu báu, vàng ngọc Vì cướp bóc thời gian dài, ơng có lẽ vị vua giàu lịch sử nhân loại Vua Mahmud cai trị phần ba kỉ Ấn Độ từ kỉ XIII đến kỉ XVI Vương triều hồi giáo Dehli 1206 – 1526 Bộ lạc Ghuri người Turk Afghanistan bắt đầu xăm lăng Ấn Độ, chiếm đô thị Dehli, phá đền đài, cướp phá đền đài dẫn đến thành lập triều đại Hồi giáo Dehli 1206 cai trị vùng Bắc Ấn vòng kỉ Từ năm 1206 – 1526 trải qua vương triều Mamluk 1206–1290, Khalji 1290–1320, Tughlaq 1320–1414, Sayyid 1414–51, Lodhi 1451–1526 tất khu vực Pakistan thuộc quyền cai trị Delhi Điểm chung vương triều bị cai trị người ngoại tộc Hồi giáo Dehli Nhưng phủ nhận ông vua người tài năng, bọn tay chân tận tụy trung thành Vì khơng q khó hiểu Vương triều hồi giáo Dehli lại tồn trì quyền cai trị dân tộc hận thù họ Các quốc vương Dehli thích tạo mối quan hệ với nhà cai trị Hồi giáo Cận Đông không trung thành với họ Tuy cai trị đô thị trại quân thương mại lại tập trung nơng thơn Nhưng chất quyền thay đổi Do sách cai trị nghiêm ngặt tàn khốc nên không ủng hộ người Hindu người Hồi giáo Vương triều hồi giáo Dehli thức kết thúc bị bọn xăm lăng tràn xuống từ phía phương Bắc Vương triều Mughal 1526- 1857 Các đế quốc Mông Cổ 1206-1368 thành lập Thành Cát Tư Hãn hay gọi Gengis Khan 1206-1227, Genghis xây dựng đế chế cách hợp lạc du mục thảo nguyên châu Á Từ kỉ XIII, người Mông Cổ khu vực Trung Đông nhiều lần xâm lược Ấn Độ Họ đánh chiếm Dehli, nắm quyền kiểm soát phần lớn tiểu lục địa Ấn Độ Người chiến thắng Tamerlane Timur xem Hồi giáo vùng đất chiến tranh, tự xưng hậu duệ Genis Khan để lợi dụng giúp đỡ người Mông Cổ Các vua nhà Mughal thuộc dòng dõi nhà Timur Giai đoạn cực thịnh đế quốc Mughal bắt đầu Akbar Đại Đế lên ngơi năm 1566 Akbar có nghĩa “vơ vĩ đại” Năm 18 tuổi ơng tiếp quản tồn quyền hành Akbar khát khao mở rộng bờ cõi chiến tranh xâm lược đẫm máu Sau thống trị toàn cõi Ấn Độ quay Dehli, ơng tổ chức lại triều Nhà vua thời nắm ba quyền lập pháp, hành pháp tư pháp Akbar biết cách chi tiêu tiết kiệm cho quốc gia, luật pháp thuế khơng cịn hà khắc trước, bỏ chế độ bắt tù linh làm nô lệ, cấm sát sinh để tế thần linh, cho phép tự phát triển tôn giáo ngành nghề Ơng cịn có thiên hướng khao khát trở thành triết gia Sự sụp đổ đế quốc Mông Cổ bắt đầu Aurengzeb qua đời năm 1707, nhiên đế chế Mughal tồn thêm thời gian Đến năm 1849, thực dân Anh bắt đầu ạt xâm chiếm, Ấn Độ nhanh chóng trở thành thuộc địa Anh Vương triều Mughal thực bị tan rã CHƯƠNG 3 THÀNH TỰU VỀ VĂN HỌC ẤN ĐỘ Ngôn ngữ chữ viết Các tác phẩm triết học văn học Ấn Độ thời Trung cổ đa phần viết tiếng Sanskrit Tiếng Sanskrit hay gọi tiếng Phạn, cổ ngữ Ấn Độ Bắc Phạn Cổ xưa tiếng Phạn Vedic tìm thất tác phẩm Veda, cụ thể Rig Veda Nhưng nhu cầu thuyết giảng học phái nên tiếng Sanskrit nhanh chóng bị biến đổi thành từ ngữ mới, làm giản dị vốn có Veda, trở thành chữ dài ngoằng, ví dụ chữ “citerapratisamkramayastadakarapattau” Will Durant, 1963 Hình Bản tiếng Phạn Devīmāhātmya bối, theo lối viết cổ Bhujimol, Bihār Nepāl, kỷ 11 Nguồn Nguyên Thế/ GiácNgộ, 2018, Tam tạng Sanskrit gì? truy cập ngày 30/6/2021 Vào kỉ thứ TCN, tiếng Sanskrit biến đổi thành tiếng Prakrit, trở thành ngơn ngữ tín đồ đạo Phật đạo Jaina Cũng khoảng thời gian đó, khảo tự Kharosthi mơ chữ Semitic – loại chữ thuộc vùng Lưỡng Hà Họ viết kinh Phật giáo sử thi Ngôn ngữ viết cọ vỏ cây, dùng dây để xâu vỏ thành sách Vào khoảng năm 1000, người Hồi giáo mang giấy viết đến Ấn Độ chưa thay vỏ cọ Hệ thống chữ viết Brahmi xuất vào kỉ thứ TCN hệ thống chữ viết sớm phát triển Ấn Độ Nó hệ thống chữ viết có ảnh hưởng sau chữ Kharosthi, tất chữ viết đại Ấn Độ hàng trăm chữ viết tìm thấy Đơng Nam Đơng Á có nguồn gốc từ Brahmi Tiếng Prakrit lại tiếp tục biến đổi thành tiếng Pali mà tiền thân ngữ vùng Magada Tiếng Pali dùng để viết kinh sách đạo Phật thời cổ, Hệ thống chữ viết Brahmi hệ thống chữ viết sớm phát triển Ấn Độ Nó hệ thống chữ viết có ảnh hưởng nhất; tất chữ viết đại Ấn Độ hàng trăm chữ viết tìm thấy Đơng Nam Đơng Á có nguồn gốc từ Brahmi Cuối kỉ 10 phát sinh nhiều loại ngôn ngữ mới, quan trọng tiếng Hindi, sau tiếp tục chuyển thành tiếng Hindustani Đến thời kì Ấn Độ bị người Hồi giáo xâm lăng, người Hồi giáo đem theo từ ngữ Ba Tư, biến chúng trở thành tiếng Urdu miền Bắc Ấn Độ Người Dravidan cao nguyên Deccan giữ ngun ngơn ngữ dân tộc mình, bao gồm tiếng Tamil, tiếng Telugu, tiếng Kanarese, tiếng Malayalam Trong đó, tiền Tamil ngơn ngữ thức phổ biến Tamil Nadu – phần miền Nam Ấn Độ Cho đến nay, Ấn Độ tồn nhiều ngơn ngữ khác khơng có ngơn ngữ thống chung Tại di thuộc văn minh lưu vực sông Ấn phát dấu khắc chữ đồ họa Suốt nửa kỉ từ phát lần vào năm 192, nhiều tác giả nhiều nướcc nghiên cứu cách đọc loại chữ chưa thành công Mãi đến cách vài chục năm, nhà khảo cổ học Ấn Độ Tiến sĩ S R Rao khám phá bí ẩn loại chữ Theo ông Rao, loại chữ dùng hình vẽ để ghi âm ghi vần Trong số dấu có 22 dấu Lọai chữ chủ yếu viết từ phải sang trái Những dấu phát dấu dùng để đóng kiện hàng để xác nhận hàng hóa rõ xuất xứ hàng hóa Vũ Dương Ninh, Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Quốc Hùng, Đinh Ngọc Bảo, tái lần thứ mười hai Văn xuôi thơ Đối với người Hindu, thơ mộng lãng mạn thể thơ ca thơ dễ ngâm, dễ nhớ dễ truyền miệng Truyện ngụ ngôn sử ký đất nước Ấn Độ thường thể thơ Ấn Độ có kho tàng ngụ ngơn phong phú Có hai loại sách coi dạy trị đạo đức Panchatantra Hitopadesha Tập ngụ ngôn tiếng khơng nhắc đến tập Panchatantra có nghĩa năm quy tắc ứng xử viết theo tiếng Sanskrit vào khoảng kỉ thứ TCN, Vichnousarman biên soạn Cịn Hitopadesha câu chuyện ngụ ngơn dựa tập Panchatantra Người Hindu sống tín ngưỡng chuẩn mực đạo lí xã hội nên họ chấp nhận sử thi lịch sử, dùng truyền thuyết làm tiểu sử Cụ thể Buddhacharita Ashvaghosha ghi chép Đức Phật Harshacharita viết tiểu sử vua Harsha Cả hai nói lịng u nước, tơn thờ tín ngưỡng nhiều lịch sử Người Hồi giáo lại có nhận thức sâu sắc rõ ràng lịch sử Thời Akbar có sử gia kiệt xuất, Muhammad Qazim Firishta, mà Lịch sử Ấn Độ ông sách hướng dẫn đáng tin cậy biến cố giai đoạn Ấn Độ bị người Hồi cai trị Will Durant,1963 Đồng thời, Abu-I-Fazl vị tể tướng thời Đại đế Alkbar ghi chép lại thuật trị quốc vua Akbar tác phẩm Ain-I Akbari Ấn Độ đất nước sản sinh nhà thơ tuyệt vời Số lượng lên đến hàng trăm, hàng ngàn Fayadeva với tập Gita-Govinda diễn tả yêu đương người Hindu mang sắc thái tôn giáo, tình yêu thần Radha Krishma, mang vẻ thần bí hướng Thượng Đế Nhà thơ Chand Bardai dùng ngơn ngữ bình dị viết lịch sử tiếng Hindu Cịn có Sur Das, nhà thơ mù viết 60000 câu thơ đời chuyến phiêu lưu thần Krishna Thi hào lớn văn học Hindu Tulsi Das, thời với thi hào Shakespeare nước Anh Ông viết sử thi tôn giáo với tựa đề Ramacharita-manasa tiếng Việt Hồ truyền kì Rama Trong đó, cao nguyên Deccan, có nhà thơ Tukaram sáng tác đến 4600 thơ tôn giáo tiếng Mahrathi, ngày tác phẩm ông cịn lưu truyền Ấn Độ Cuối cùng, khơng thể thiếu Kabir Das – nhà thơ trữ tình vĩ đại người trích tơn giáo qua tác phẩm Ông vốn người Hồi giáo, theo thầy nhà lãnh đạo tên Ramananda trở thành tín đồ thờ Rama Ơng tơn thờ Rama vị thần chung nhân loại, tôn thờ tín ngưỡng khơng có thánh đường, khơng có đền thờ hay tượng Ông bị đe dọa người theo đạo Hindu đạo Hồi quan điểm Tuy vậy, đạo lý ơng giản dị, ông sống hạnh phúc chấp nhận với sống thực Ông viết thơ tình hay Tập thơ Songs of Kabir Những khúc hát Kabir Rabindranath Tagore, dịch từ tiếng Hindi sang tiếng Anh, sau nhà thơ Bùi Xuân dịch đoạn sau XII Nói với tơi, Ơi Thiên Nga, chuyện xưa bạn Từ mảnh đất bạn tới, Ôi Thiên Nga? Bạn bay đến bờ biển nào? Bạn làm tổ đâu, Ơi Thiên Nga, bạn tìm kiếm gì? Ngay sáng nay, Ôi Thiên Nga, thức giấc, vươn mình, theo tơi Nơi vùng đất khơng có ngờ vực kêu than luật lệ nơi khiếp sợ Thần Chết khơng, Nơi đó, khu rừng mùa xn bơng hoa, thơm ngát mùi hương “Bạn Tôi” sinh gió Nơi đó, ong trái tim đắm mình, mong muốn khơng có niềm vui khác XXX Trên tán có chim nhảy nhót niềm vui sống Khơng biết từ đâu tới chẳng hay, đâu nỗi nhọc nhằn để có tiếng hót? Nơi cành tỏa bóng râm, chim có tổ mình tổ buổi tối sớm mai bay đi, khơng nói lời chứa nghĩa Khơng nói với tơi chim hót tơi Nó khơng có sắc màu mà khơng thể có sắc màu, khơng có hình thức mà khơng có đường nét Nó đậu bóng tối tình u Nó cư ngụ Khơng Thể Vươn Tới, Vô Biên, Vĩnh Cửu; không dấu vết đến Kabir nói “Ơi người anh em Sadhu! sâu thẳm điều bí ẩn Hãy người khôn ngoan biết nơi nghỉ ngơi chim.” … Nguồn Bùi Xuân dịch, 2016, Thơ tình Kabir, truy cập ngày 30/6/2021 Sử thi Sử thi Ấn Độ vốn tiếng với hai Mahabharata Ramayana Cả hai có đặc điểm chung truyền miệng để bảo tồn truyền bá đến đời sau Mahabharata thơ sử thi tiếng Phạn cổ đại kể câu chuyện vương quốc Kurus, sử thi vĩ đại triều đại Bharata Thánh Vyasa công nhận người biên soạn Mahabharata, qua nhiều kỉ bổ sung thêm nhiều chi tiết viết tiếp nhiều tác giả Đến thời vua Gupta, Brahman viết thêm tư tưởng tôn giáo đạo đức khiến Mahaharata trở thành sử thi đồ sộ nay 18 chương câu Thực chất, Mahabharatra kể câu chuyện mang tính bạo lực chiến tranh giáo huấn đạo lý sử thi kể chiến tộc Kuru Panchala tiểu lục địa Ấn Độ 10 Câu chuyện kể năm người trai Vua Pandu qua đời người Pandavas 100 người trai Vua mù Dhritarashtra người Kauravas, người chống lại chiến tranh giành quyền sở hữu vương quốc Bharata tổ tiên sông Ganga miền trung bắc Ấn Độ Nhân vật sử thi thần Krishna Mặc dù Krishna có quan hệ họ hàng với Pandu Dhritarashtra, háo hức chứng kiến chiến tranh xảy hai gia tộc coi trai Pandu công cụ người để hồn thành mục tiêu Các nhà lãnh đạo hai gia tộc tham gia vào trò chơi xúc xắc, trò chơi bị gian lận theo lợi ích Dhritarashtras gia tộc Pandu thua cuộc, đồng ý sống lưu vong 13 năm Khi thời kỳ lưu vong kết thúc gia tộc Pandu trở lại, họ nhận thấy đối thủ họ không muốn chia sẻ quyền lực Kết chiến tranh nổ Sau nhiều năm xung đột bạo lực, hai bên thực vơ số hành động tàn bạo nhiều trưởng lão gia tộc bị giết, Pandavas cuối xuất giành chiến thắng Trong năm sau chiến tranh, Pandavas sống sống khổ hạnh ẩn thất rừng Krishna bị tàn sát ẩu đả say rượu linh hồn tan biến trở lại thành Thần tối cao Vishnu Khi họ biết điều này, Pandavas tin đến lúc họ phải rời khỏi giới Họ bắt đầu hành trình vĩ đại, phía bắc hướng tới thiên đường, nơi người chết hai gia tộc sống hịa thuận Nhiều tình tiết phụ đan xen xuyên suốt văn bảnsử thi, theo chân nhiều nhân vật họ theo đuổi chương trình nghị riêng mình, vật lộn với tình khó xử đạo đức xung đột với The Story of the Mahabharata, India's Longest Epic Poem, 2018, Ramayana sử thi cổ đại lớn văn học giới ngày nay, Valmiki sáng tác, có từ năm 1500 TCN theo số nhà học giả thời trước nhận định Những cơng trình nghiên cứu gần cho khoảng kỷ thứ TCN Sử thi Ramayana có chương, chương I chương VII sau thêm vào, dài khoảng 1000 trang, gồm 24000 câu thơ đôi, tức 48000 dịng thơ Ramayana thuật lại chuyện tình chàng hoàng tử Rama nàng Sita Trong thời Vêđa, vương quốc Cơxala sống cảnh bình trị vua Đaxarađa Người trưởng vua Rama, niên thông minh dũng cảm có đạo đức vua chọn làm thái tử nối ngơi Gần đó, có vương quốc khác Viđêha, dân chúng an cư lạc nghiệp quyền thống trị vua Gianắc Bản thân vua cầm cày cày ruộng Một hôm nhà vua cày, thấy từ luống cày lên thiếu nữ xinh đẹp Nhà vua đem nuôi, đặt tên Sita coi Khi Sita đến tuổi lấy chồng, nhà vua tổ chức thi bắn cung để kén phò mã Nhiều niên tham dự thi, có Rama giương cung nhà vua Rama kết hôn với công chúa Sita 11 Nhưng phi vua Đaxarata ghen với hồng hậu có trai Rama làm thải tử nối nên yêu câu vua đày Rama khỏi đất nước 14 năm Rama Sita đến sống rừng Một cơng chúa góa chồng hơm dạo chơi rừng gặp Rama đem lịng yêu chàng Bị từ chối liệt, nàng công chúa tức giận nên bảo em trai Ravan, vua nước Quỷ đảo Lanca bắt cóc Sita Nhờ giúp đỡ vua nước Vượn Xugriva, Rama tổ chức đội quân gồm toàn vượn gấu Theo lệnh Rama, cầu xây dựng nối liền lục địa với đảo Lanca Ngày nay, Ấn Độ Xri Lanca có hịn đảo mà theo truyền thuyết cư dân địa phương, dấu vết cầu Với đội quân vượn gấu đó, Rama đánh bại vua nước Quỷ cứu Sita Thời gian đày hết, Rama trở đất nước lên làm vua Chương cuối người đời sau thêm vào kể tiếp Sita thắng thử lửa, Rama nghĩ nàng không giữ trinh tiết với thời gian cung điện Ravan, nên Rama đày vợ vào rừng Tại đây, Sita sinh đứa trai gặp Vanmiki mà sau trở thành tác giả tập thơ Lớn lên đứa trở thành người hát rong hôm chúng hát cho Rama nghe trường ca Ramayana Rama nhận mình, sai sứ giả vào rừng đón Sita cung Sita minh oan đau khổ bị chồng nghi ngờ nên biến vào lòng đất, người mẹ trước sinh nàng từ luống cày Rama tiếp tục trị nhiều năm nữa, nhân dân sống yên vui, thân ông phải sống cảnh buồn rầu cô độc Lịch sử giới, Vũ Ngọc Ninh Hai tác phẩm Mahabharata Ramayana để lại nhiều cảm hứng sáng tác cho đời sau Ngồi ra, cịn nhiều tác phẩm khác viết nhiều thứ tiếng khác Nhìn chung thi ca mang ngôn ngữ dân gian, sử dụng nhiều tiếng khác để phiên dịch sáng tác, mang tính lịch sử hào hùng pha trộn lãng mạn nhẹ nhàng, thể tâm tư nguyện vọng dân chúng Tuồng kịch Không thể xác định tuồng kịch bắt đầu xác vào năm nguồn gốc tuồng kịch từ nghi thức lễ hội, từ đám rước tôn giáo, từ việc nhảy múa bắt nguồn từ buổi diễn ngâm sử thi Những điều góp phần tạo tuồng hát Ấn Độ, mang dấu ấn tôn giáo, chủ đề lấy từ kinh Veda sử thi Khơng có ghi chép hay chứng tích nghệ thuật tuồng kịch Hindu chứng mơ hồ Những tuồng kịch cổ viết tay cọ, biểu diễn qua nhiều thời kì có thêm thắt chi tiết cho thêm sinh động Mirchakatika Cổ xe đất sét tuồng cổ Ấn Độ Vở tuồng viết tiếng Sanskrit vào kỉ thứ II TCN, tác giả Shudraka Đây có lẽ tuồng hấp dẫn Ấn Độ, biểu diễn 10 Cổ xe đất sét có cốt truyện phức tạp, pha trộn nhiều cảm xúc, đầy tình tính lãng mạn, vui nhộn, hài hước âm mưu hồng gia đầy bí hiểm Câu chuyện xoay quanh chuyện tình chàng trai trẻ Charudtta cô hầu gái Vasantasena thuộc nhà giàu có Mối tình trở thành mối 12 tình tay ba chàng cận thần hoàng gia bị thu hút vởi Vasantasena Bên cạnh phức tạp nhầm lẫn tên trộm gây làm tuồng thêm phần thú vị Vở kịch Shakuntala Kalidasa tạo xem kịch tiếng tuồng kịch Hindu Kalidasa nhà thơ nhà soạn kịch lớn thời Gupta thế kỉ V Tuồng kịch Shakutana gồm màn, viết vê chuyện tình nàng Shakuntala vua Dushyanta Họ trải qua nhiều sóng gió, trắc trở cuối hai người đến bên nhua sống hạnh phúc đến cuối đời Có thể thấy rằng, đặc điểm chung tuồng kịch Ấn Độ dài so với kịch phương Tây Mỗi kịch diễn từ đến 10 màn, chia thành nhiều cảnh Sân khấu dựng sơ sài y phục lại màu mè diêm dúa Kịch thường thể trí tưởng tượng bay bổng, sáng tạo, đầy chất thơ, gợi xúc cảm người xem nhiên hay có nhiều đoạn trùng Nếu thơ ca Hindu phản ánh triết học khô khan sân khấu tuồng kịch lại khơng có bi thương Kết thường có hậu, tình u chung thủy trước sau người tốt báo đáp xứng đáng CHƯƠNG 4 THÀNH TỰU VỀ NGHỆ THUẬT ẤN ĐỘ Ấn Độ vốn tiếng có kho tàng nghệ thuật phong phú đặc sắc, ba mảng hội họa, điêu khắc, kiến trúc Hội họa Hội họa Ấn Độ có tuổi đời ngàn năm Nhưng lịch sử hội họa Ấn Độ khơng có ghi chép liên tục, nhiều giai đoạn bị ngắt quãng thời tiết khắc nghiệt làm hư hại tranh phần xâm lăng thống trị người Hồi giáo thời gian dài Hệ thống hang động Ajanta tiếng với bích họa vách đá trần hang với điêu khắc đá Các tranh tập trung thể đời đức Phật câu chuyện liên quan đến Ngài, số lượng lên đến 500 bích họa Hình Mặt tiền chaitya Hang 19 Ajanta, Tây Bắc Deccan, Ấn Độ Nguồn Sankarshan Mukhopadhyay, 2015 13 Ngoài ra, họa phái trội dậy từ người Rapjut, họa nét phát thảo sinh động chân thực, trưng bày số bảo tàng Mỹ Một dạng biến tướng khác phát triển triều đại Mông Cổ, trường phái vẽ chân dung quý tộc họa thường đặc tả sống xa hoa tầng lớp hoàng gia Họa sĩ tiếng trường phái Dasvanth Điêu khắc Triều đại Gupta triều đại có nghệ thuật điêu khắc phát triển Các tác phẩm điêu khắc thường đặc tả Đức Phật vị thần linh Một số tác phẩm tiêu biểu là tượng thần Shiva ba mặt Trimurti tiếng hang động Elephanta, tượng đá nữ thần Rukmini, tượng thần Shiva múa, hưu đá Mamallapuram, Hình Tượng thần Shiva Nataraja – Chúa tể điệu nhảy, kỉ 11 Nguồn Jean-Pierre Dalbera, 2015, Shiva Nataraja, cập ngày 30/6/2021 Kiến trúc Kiến trúc Phật giáo đời vào TK VI TCN, đề tài nguồn khơi gọi cảm hứng cho nghệ thuật học thuật Về mặt kiến trúc có hai loại hình kiến trúc chủ yếu thờ thánh tích chùa Thờ thánh tích có hình thức vừa mộ thờ vừa tháp, đặt di tích Phật Chùa nơi thờ Đức Phật chỗ sư, nhà tu hành Stupa Sanchi hang Ajana hai loại hình tiêu biểu kiến trúc Phật giáo Bên cạnh cịn có cơng trình làm gạch, đá Tiêu biểu trụ đá Sarnath Trên đỉnh trụ có sư tử chụm vào nhau, nhìn hướng, có hình bánh xe luân hồi bên Hình tượng Ấn Độ vẽ thành quốc huy cho nước Kiến trúc Ấn Độ giáo thay Phật giáo vào thời kì Gupta TK – 9 Đặc điểm nghệ thuật kiến trúc thời đền thờ trời Các đền thờ thường xây dựng đá gạch, tháp đồ sộ có móc hình vằn khăn Ở miền Nam, đền thờ có tháp tam quan bên tường bao quanh Nhìn chung, phong cách nghệ thuật mang tính sống động, mạnh mẽ độc đáo Các cơng trình kiến trúc phổ biến cụm thánh tích Mahabalipuram, Pandava ratha, khu đền Mahavalipuram ví đỉnh Everest nghệ thuật cổ trung đại Ấn Độ 14 Kiến trúc Hồi giáo bật tiếng với thánh đường Hồi giáo, đền lăng mộ thiết kế kiểu cách, khác lạ, hoa văn phúc tạp Thánh đường Hồi giáo có kiến trúc mái vịm họa tiết trang trí cơng phu tường, mái, cột trụ, trần nhà Các họa tiết trang trí thường làm từ thủy tinh, pha lê nhiều màu sắc Các cơng trình tiêu biểu Đền Taj Mahah, lăng mộ Humayun, giáo đường Quwat ul Islam Dehli, Hình Đền Taj Mahah Nguồn TMAX / Fotolia, Kiến trúc Mughal, , truy cập ngày 30/6/2021 CHƯƠNG 5 THÀNH TỰU VỀ KHOA HỌC ẤN ĐỘ Thiên văn học Bộ sách cổ Thiên văn học Shiddhanta đời vào khoảng năm 425 TCN, bên cạnh cịn có Varahamihira Cả hai sách dựa khoa học Hy Lạp Nhà thiên văn học lớn Ấn Độ Aryaabhata giảng tượng nhật thực, nguyệt thực, bốn mùa năm tun bố trái đất có hình trịn Các nhà thiên văn học đời sau mô theo nhà thiên văn Babylon để chia vòm trời thành chịm cung hồng đạo Họ cịn tạo lịch cách tính ngày tháng giống với thời gian sử dụng Sự tính tốn họ có tính xác cao, xác định đường kính mặt trăng, vị trí cực trái đất, vị trí vận hành Tốn học Để giải phép tính phức tạp, người Ấn Độ tạo hệ thống toán học cao tốn học Hy Lạp, trừ hình học 15 Các nhà toán học tạo số “Ả Rập” mà hay dùng ngày hệ thập phân Những số “Ả Rập” tìm thấy bia đá vua Ashoka năm 256 TCN Ba nhà khoa học lĩnh vực thiên văn học gồm có Aryabhata, Brahmagupta Bhaskara Ba nhà tốn học tạo khái niệm số âm, xác lập quy tắc phép hốn vị, tìm bậc hai số giải phương trình bậc Về mặt hình học có trình độ không số học Để đo đạc xây dựng đàn tế thần linh, tu sĩ Ấn biết sử dụng định lý Pythagore, có nghĩa tam giác vng, bình phương cạnh huyền tổng hai cạnh góc vng Do ảnh hưởng Hy Lạp nên Aryabhata tìm cơng thức tính diện tích hình, gồm có hình tam giác, hình thang, hình trịn, tính trị số số pi 3,1416 Ngồi ra, Surya Siddhanta cịn cung cấp hệ thống lượng giác giá trị sine Hóa học Vật lý học Về mặt vật lý học, nhà khoa học tạo thuyết nguyên tử Nhà triết học Vaisheshika cho vũ trụ cấu tạo nguyên tử khác Các nhà bác học đạo Jaina lại cho tất nguyên tử giống nhau, tổ hợp khác nên có hiệu ứng khác Khơng vậy, người Ấn Độ biết đến sức hút trái đất Trong Siddhanta viết rằng “Trái đất, trọng lực nó, hút hết tất thứ mình” Như thấy họ giải thích thuyết trọng lực Về mặt hóa học phát triển Ấn Độ thời cổ đại có kỹ thuật luyện kim tuyệt hảo Ấn Độ nước giỏi cơng nghệ hóa học làm da thuộc, chế tạo xà bông, thủy tinh, sản xuất xi măng có ngành nhuộm Vào kỉ thứ 6, người Ấn phát triển trước châu Âu Họ người đứng đầu lĩnh vực kỹ thuật hoa học, bao gồm kỹ thuật nung khô, chưng cách thủy, chưng cất rượu, thăng hoa, biết cách điều chế hợp chất với hợp kim Y dược học Ấn Độ có thành tựu nghiên cứu lớn so với nước thời Thế kỉ thứ TCN, thầy thuốc Hindu mô tả quan thể dây chằng, mạch bạch huyết, dây thần kinh, mô mỡ, mô dẫn truyền, màng dầy, màng hoạt dịch, biết cách khâu vết mổ Trước Công Nguyên, thầy thuốc theo trường phái y khoa Hindu đề nghị sinh đẻ cách khoa học dựa chu kì kinh nguyệt phụ nữ, họ tính tốn phát triển thai xác Tài liệu y học ghi tập Veda, lẫn lộn ma thuật, thần với y khoa chân Đám người phù thủy chữa bệnh ma thuật thần từ thời Veda, thầy thuốc nhà giải phẫu học tách biệt với đám người phù thủy Những tên tiếng giới y học Hindu Sushruta kỉ V TCN Charaka kỉ thứ II CN Charaka soạn bách khoa tự điển y học, sử dụng Ấn Độ Sushruta bậc thầy giải phẫu học Ông nói nhiều phương pháp giải phẫu mổ lấy sạn thận, mổ lấy thai, thực ghép mô mảnh da 16 khác thể, … chí liệt kê loại dụng cụ giải phẫu giống với Sushruta nghĩ phương pháp chẩn bệnh bước quan sát, bắt mạch thính chẩn Cả Sushruta Charaka nhắc đến vài loại thuốc giúp gây tê bệnh nhân, giúp bệnh nhân khơng cịn cảm giác đau đến phẫu thuật Nhìn chung, y học trình độ phát triển mạnh mẽ, đặc biệt thời kì Veda Phật giáo CHƯƠNG 6 TÔN GIÁO Đạo Bà La Môn đạo Hindu Đạo Bà La Môn Ra đời vào nửa đầu thiên niên kỷ I TCN Đạo Bà-La-Môn phân chia xã hội, thờ ba vị thần Brama, Visnu, Siva Ấn Độ làm giai cấp Ai sinh giai cấp phải giai cấp suốt đời tức khuyên người lịng với giai cấp Bốn đẳng cấp sinh từ nguồn, từ thể xếp theo thứ tự từ cao đến thấp Các tăng lữ Bà la môn, Sát Đế Lỵ, Phệ Xá, Thủ Đà La Đạo Bà La Môn đời sở kinh Upanishad, quan niệm kiếp luân hồi, linh hồn chuyển từ vỏ bọc vật chất sang vỏ bọc vật chất khác, khuyên người tuân thủ quy định Bà la môn để kiếp sau đầu thai vào vị trí tốt Luật Manu đời quy định rõ chế độ đẳng cấp giải thích nguồn gốc đẳng cấp; cho hệ thống đẳng cấp thần linh định Luật Manu cịn giải thích nhiệm vụ, bổn phận công việc đẳng cấp; quy định loại thức ăn, áo quần nơi mà đẳng cấp cần phải theo, đặt hình phạt dành cho đẳng cấp có vi phạm luật định Tóm lại, Đạo Bà La Môn chi phối xã hội, bảo vệ giai cấp thống trị, thủ tiêu đấu tranh giai cấp Đạo Hindu Ấn Độ giáo Đạo Hinđu đời muộn Đến khoảng kỉ VII, mà đạo Phật bị suy sụpở Ấn Độ Thì đạo Hinđu đời cở sở đạo Bà la môn Nhưng đạo Hindu có thêm nhiều yếu tố Vẫn thờ ba vị thần Brama, Visnu, Siva Tuynhiên vị trí vị thần có đổi khác Vai trò thần Brama bị hạ thấp vai trị thần Siva đề cao tơn thờ lồi động vật Có bổ sung nhiều kinh thánh mới Mahabharata, Ramayana, Purana… Quy định thêm chuẩn mực, luật lệ xã hội, hình phạt cách tỉ mỉ Những quy định đạo Hindu tác động đến lĩnh vực đời sống xã hội Ấn Độ Kết luận sau đạo Phật suy sụp, đạo Bà la mơn nhân tình hình phục hưng Thế kỉ VII - IX đạo Bà la môn với tên gọi đạo Hindu - tơn giáo Ấn Độ ngày gọi Ấn ộ giáo ặc biệt Bà la môn hay Ấn ộ Giáo tôn giáo khơng có giáo chủ với bổ sung thêm nhiều yếu tố vềđối tượng sùng bái, kinh điển, nghi thức tế lễ trọng thuyết luân hồi, coi trọng phân chia đẳng cấp Phật giáo 17 Ra đời vào thiên kỷ VI TCN, vị hoàng tử Thích ca mâu ni sáng lập Chống lại Kinh Veda, giáo lý Bàlamôn, chống phân chia đẳng cấp, bảo vệ người nghèo, giai cấp bị trị Lên án chế độ phân chia đẳng cấp, đòi tự tư tưởng bình đẳng xã hội Để cải cách xã hội, Phật giáo khuyên người ta sống từ bi, hỉ xả, bác Tuyên bố người bình đẳng nhau, cứu vớt Chưa tìm ngun nhân đích thực nỗi khổ mà nhân dân phải gánh chịu, chưa đường biện pháp cải tạo xã hội đắn, hiệu để xố bỏ tận gốc đau khổ bất cơng xã hội Cho đời bể khổ, người bị kiếp luân hồi luật nhân đầy đọa, phải tu hành để tìm cách giải Cái chân lí nỗi đau khổ giải thể “Tứ Thánh Đế”, gồm khổ đế, tập đế, diệu đế, đạo đế Khổ đế chân lí nỗi khổ Theo Phật, người có tám nỗi khổ bát khổ sinh, lão, bệnh, tử, gần kẻ khơng ưa, xa người u, cầu mà khơng được, giữ lấy uẩn thủ ngũ uẩn Đối với người, ngồi khổ đau vơ tận, khơng có khác Tập đế chân lí nguyên nhân nỗi khổ Nguyên nhân chủ yếu luân hồi, mà nguyên nhân luân hồi nghiệp, có nghiệp lịng ham muốn ham sống, ham lạc thú, ham giàu sang Diệt đế chân lí chấm dứt nỗi khổ Nguyên nhân khổ đau luân hồi, muốn diệt khổ phải chấm dứt luân hồi Đạo đế chân lí đường diệt khổ tức phương pháp thực việc diệt khổ Con đường gọi "bát đạo" 8 đường đắn, gồm kiến tín ngưỡng đắn tư duy suy nghĩ đắn ngữ nói đắn nghiệp hành động đắn mệnh sống đắn tịnh tiến mơ tưởng đắn niệm tưởng nhớ đắn định tập trung tư tưởng ngẫm nghĩ đắn Về mặt giới quan, nội dung học thuyết Phật giáo thuyết duyên khởi Duyên khởi chữ nói tắt câu "chư pháp nhân duyên nhi khởi" nghĩa "các pháp nhân duyên mà có" Do quan niệm duyên khởi sinh vạn vật nên đạo Phật chủ trương "vơ tạo giả" tức khơng có vị thần linh tối cao tạo vũ trụ Bên cạnh thuyết "vơ tạo giả", đạo Phật cịn nêu thuyết "vô ngã","vô thường" Đạo Jain Đạo Jain xác lập gần thời với Phật giáo Người sáng lập Mihariva, cịn có hiệu Jaina chiến thắng Trong Phật giáo suy tàn đất Ấn đạo Jaina 18 tồn Đạo Jaina chia làm hai phái, phái Svetambara mặc áo trắng phái Digambara ở truồng Về sau tín đồ phái Digambara mặc quần áo bình thường, có đạo sĩ họ khơng mặc quần áo kể đường Giới luật đạo Jain gồm có điều chủ yếu Khơng giết sinh vật Khơng nói dối Khơng lấy vật kẻ khác khơng phải tặng phẩm Khơng dâm dục Khơng tích lũy cải nhiều Phải sống khổ hạnh, từ chối thú vui xã hội Đạo Jain tơn giáo khắt khe kì quặc nên khơng truyền bá rộng rãi rộng rãi đạo khác Tuy Ấn Độ tín đồ đạo này, khơng nhiều, chiếm khoảng 0,7% dân số Ấn Độ KẾT LUẬN “Văn minh” từ ngữ mơ tả xã hội lồi người có trình độ phát triển văn hóa cơng nghệ cao Lịch sử Ấn Độ diện không ngừng phát triển mặt Về phương diện văn hóa, Ấn Độ tranh đa dạng màu sắc ngày tiếp nhận nhiều tư tưởng văn hóa qua thời kì chịu ảnh hưởng từ nước láng giềng nước phương Tây, cụ thể xâm lăng người Hồi giáo đem theo kho tàng tri thức văn minh đến với Ấn Độ Văn học Ấn Độ đa dạng, cao quý, hồn nghệ thuật tác phẩm khơng có cách lột tả hết vẻ đẹp tính nhân văn Văn học Ấn Độ không bật văn minh thời mang nét riêng hay riêng Về mặt tín ngưỡng, Ấn Độ quốc gia có nhiều tơn giáo giới Người Ấn Độ sống với niềm tin dựa vào thánh thần, tâm linh Họ tôn sùng thánh thần họ nhà nước trị Tơn giáo khởi nguồn nhiều thứ khác sống Tuy nhiên điều mê tín dị đoan, tiêu cực nên bị loại trừ Về phương diện trị nhà nước, thật khó đánh giá điều Vì quốc gia khác có phong tục tập quán riêng cách điều hành riêng Ấn Độ trị nhiều thể chế khác nhau, có vua nước người ngoại quốc Về phương diện kinh tế, Ấn Độ khơng q đặc sắc vể khía cạnh Tuy nhiên Ấn Độ dần bước khỏi lạc hậu, cổ hữu để đến với thời kì cơng nghiệp đại Sự thịnh vượng thương không ngừng tiến Ấn Độ dạy học khoan dung lòng nhân hậu, dạy cho thản tâm hồn, không tham lam Dạy cho ta cách sống điềm nhiên, n bình tĩnh lặng Hầu hết, tơn giáo giữ vai trị trung tâm, có tầm ảnh hưởng rộng khắp chi phối mặt đời sống từ văn hóa, trị, đời sống người nơi Ấn Độ nôi văn minh nhân loại Ngày nay, tiến trình hội nhập quốc tế, Ấn Độ dựa 19 sở phát huy truyền thống khứ, thành tựu đáng ghi nhận Ấn Độ ngày khứ có liên kết chặt chẽ bền vững Tìm hiểu văn minh phương Đơng cổ đại có ý nghĩa to lớn, giúp hiểu rõ sắc văn hóa truyền thống phát triển lịch sử khu vực Bên cạnh đó, tìm hiểu nghiên cứu cịn mang ý nghĩa vơ quan trọng tiến trình hội nhập khu vực nói chung văn hóa đất nước nói riêng thời đại văn hóa ngày 20 TÀI LIỆU THAM KHẢO Will Durant 1963, Tập Văn minh Ấn Độ nước láng giềng, Huỳnh Ngọc Chiến dịch, NXB Khoa Học Xã Hội Lê Phụng Hoàng chủ biên 1998, Lịch sử văn minh giới, NXB Giáo Dục Việt Nam Nguyên Thế/ GiácNgộ, 2018, Tam tạng Sanskrit gì? truy cập ngày 30/6/2021 Bùi Xuân dịch, 2016, Thơ tình Kabir, 2517615/ truy cập ngày 30/6/2021 The Story of the Mahabharata, India's Longest Epic Poem, 2018, truy cập ngày 28/6/2021 Jean-Pierre Dalbera, 2015, Shiva Nataraja, truy cập ngày 30/6/2021 TMAX/ Fotolia, Kiến trúc Mughal, truy cập ngày 30/6/2021 21 ... giáo Dehli 12 06 cai trị vùng Bắc Ấn vòng kỉ Từ năm 12 06 – 15 26 trải qua vương triều Mamluk 12 06? ?12 90, Khalji 12 90? ?13 20, Tughlaq 13 20? ?14 14, Sayyid 14 14– 51 , Lodhi 14 51? ? ?15 26 tất khu... THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LỊCH SỬ TIỂU LUẬN NỀN VĂN MINH ẤN ĐỘ HỌC PHẦN HIST100402 – LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI Họ tên Lưu Bảo Vy Mã số sinh viên 46. 01. 608 .11 0 Lớp Học phần HIST100402 Giảng viên... chọn văn minh Ấn Độ đề tài nghiên cứu Ấn Độ coi nơi văn minh, tiến Mục đích đối tượng nghiên cứu đề tài Dựa sở nghiên cứu văn minh Ấn Độ với thành tựu cơng trình nghiên cứu đặc sắc, tiểu luận - Xem thêm -Xem thêm Tiểu luận nền văn minh ấn độ,
tiểu luận về nền văn minh trung quốc